NI TRƯỞNG HUỲNH LIÊN
  • Thích Nữ Huỳnh Liên
  • Thích Nữ Huỳnh Liên
  • Thích Nữ Huỳnh Liên

 

Nguyện xin hiến trọn đời mình

Cho nguồn Đạo pháp cho tình Quê hương

 

THẬP ĐẠI ĐỆ TỬ
  • Thích Nữ Bạch Liên
  • Thích Nữ Thanh Liên
  • Thích Nữ Kim Liên
  • Thích Nữ Ngân Liên
  • Thích Nữ Chơn Liên
  • Thích Nữ Quảng Liên
  • Thích Nữ Quảng Liên
  • Thích Nữ Tạng Liên
  • Thích Nữ Trí Liên
  • Thích Nữ Đức Liên
  • Thích Nữ Thiện Liên
THÔNG BÁO

Cáo phó Ni trưởng Nguyện Liên viên tịch

Do tuổi cao sức yếu, Ni trưởng đã thuận thế vô thường, thu thần viên tịch vào lúc 17h50, ngày 30 tháng 10 năm 2018, nhằm ngày 22 tháng 9 năm Mậu Tuất, tại Tịnh xá Nhật Huy, TX. Long Khánh, Đồng Nai

Tuyển sinh đại học chuyên ngành Hán Nôm hệ Vừa làm vừa học tại TP. HCM

Năm 2016, Trường Đại học Khoa học Xã hội & Nhân văn - Đại học Quốc gia TP. Hồ Chí Minh xét tuyển thẳng những thí sinh đã có bằng tốt nghiệp của các trường đại học thuộc hệ thống giáo dục quốc dân; những thí sinh tốt nghiệp THPT đạt từ 15 điểm trở lên không nhân hệ số trong kỳ thi THPT Quốc gia năm 2016 gồm các tổ hợp môn: Ngữ văn - Lịch sử - Địa lý, Ngữ văn - Lịch sử - Tiếng Anh, Ngữ văn - Toán - Tiếng Anh; đã tốt nghiệp THPT hoặc tương đương có điểm trung bình cộng 3 năm lớp 10, lớp 11, lớp 12, đạt từ 6.0 trở lên, theo nguyên tắc xét tuyển những thí sinh có điểm trung bình cộng từ cao xuống thấp cho đến khi đủ chỉ tiêu. Xem trang mạng: http://dt.hcmussh.edu.vn/

VIDEO HÔM NAY

Khi Con Vào Đời - Ni sư Thích Nữ Phụng Liên - Ni sư Phụng Liên

Pháp âm MP3

  • 0 - Lời Mở Đầu
  • 01 - Võ Trụ Quan
  • 02 - Ngũ Uẩn
  • 03 - Lục Căn
  • 04 - Thập Nhị Nhơn Duyên

LỊCH VIỆT NAM

THỐNG KÊ

 

Trang chủ > Phật Học > Thiền

Bảo Phúc bốn lần lừa người

Tác giả: Tuệ Liên và Hải Liên dịch.  
Lượt xem: 74 . Ngày đăng: 04/10/2018In ấn

 

TRÍ TUỆ CỦA THIỀN NGỘ

 

BẢO PHÚC BỐN LẦN LỪA NGƯỜI

 

Tác giả : Ân Sơn

Người dịch : Tuệ Liên – Hải Liên

 

Thiền sư Bảo Phúc Tùng Triển, họ Trần, người Phúc Châu. Năm 15 tuổi, ngài đến núi Tượng Cốt, lễ Thiền sư Tuyết Phong Nghĩa Tồn làm thầy độ cho xuất gia. Đại sư Tuyết Phong là một vị Thầy lớn trong thiền môn, thiền tăng được đích thân ngài rèn luyện như sư tử nuôi thú nhỏ, ba tuổi đã có thể gầm thét lớn tiếng. Giống như mai già vừa nhú chồi non, cành lá chưa lớn đã nở hoa trước. Dưới sự khuyến khích cỗ vũ của sư phụ Tuyết Phong, Tùng Triển mới 18 tuổi này đã đi vân du. Mảnh trăng mới mọc, mây đơn côi ra khỏi núi. Chim bằng đã đủ cánh, vút tận trời cao mà bay lượn. Rồng cá mới lớn trở về biển xa đạp gió rẽ sóng mà đi. Thiền sư Tùng Triển một bình một bát, một gậy một nón, bình đựng sóng Triết Hải, bát đựng nước Hán Giang, đầu gậy gánh ánh trăng Tiu Tương, nón bao phủ đầy mây Lô Sơn. Sau khi qua lại nam bắc bờ Đại Giang, lên xuống vùng Ngô Sở, du lịch tham bái nhiều năm, ông về lại quê cũ ở Lĩnh Trung (Phúc Kiến). Bởi vì Thiền Tuyết Phong trên núi Tượng Cốt luôn khiến cho ông mộng hồn lởn vởn.

Đại sư Tuyết Phong lặng lẽ quan sát ông mấy ngày, Tùng Triển đang đi kinh hành trong sân, sư phụ đột nhiên gọi ông, hỏi một cách bất ngờ: “Có thể lãnh hội không?” Thiền sư Tùng Triển cảm nhận được thiền cơ tốt trong câu hỏi ngớ ngẩn ấy, nên muốn bước lên gần hơn một tí, bỗng nhiên Thiền sư Tuyết Phong dùng đầu thiền trượng ngăn ông lại. Ngay trong lúc tiến lên trước không được mà lùi lại sau cũng chẳng xong này, ông lập tức đốn ngộ.

Tùng Triển biết, khai ngộ, hoàn toàn không phải là đã xong mọi việc. Thế nên, ông trở về chỗ các sư huynh sư đệ ở long tượng Tông Môn của mình, luyện tập thiền đạo, ông đã từng theo sư huynh Trường Khánh Huệ Lăng trong một thời gian dài. Một hôm, Thiền sư Trường Khánh nói với ông rằng: “Thà nói A la hán có ba độc, cũng không nên nói Như Lai nói hai lời. Không phải nói như Như Lai không nói, chỉ là Như Lai không nói hai lời”. A la hán là bậc thánh nhân đã phá trừ tất cả phiền não, làm sao có thể có ba độc tham sân si được? Thiền sư Trường Khánh Huệ Lăng rất từ bi, ngài nói như vậy là vì muốn làm nổi bật Phật Pháp của đức Thích Ca Mâu Ni, không có câu nào không phải đạo lý của lời nói chân thật. Lúc đức Thích Ca Mâu Ni còn tại thế, giảng kinh tổng cộng hơn 300 lần. Bởi vì đối tượng mỗi lần Ngài gặp đều không giống nhau, cho nên đạo lý mà Ngài nói cũng không hoàn toàn giống nhau. Nguyên nhân là do Pháp Nhãn của Ngài sáng suốt có thể quan sát được căn cơ của mọi người khác nhau, nên cho họ những pháp môn khác nhau. Điều này cũng giống như vị bác sĩ cao minh, luôn căn cứ tình hình của bệnh nhân mà điều chỉnh phương pháp xử lý điều trị, tùy bệnh mà cho thuốc. Tóm lại, đức Phật nói trái nói phải, nói thẳng nói ngang, muôn hình vạn trạng, nhưng mục đích chỉ có một: khiến cho chúng ta giác ngộ. Vì thế, Trường Khánh Huệ Lăng nói Ngài “tuyệt đối không nói hai lời.”

Nhưng mà, từ bi quá độ, tất nhiên lại mất đi sự công bằng của nó nên Thiền sư Tùng Triển sắc sảo hỏi dồn: “Lời Như Lai là gì?”

Thiền sư Trường Khánh Huệ Lăng bị ép chẳng biết làm sao nữa, đành miễn cưỡng xoay người nói: “Giống như người điếc vậy, làm sao có thể nghe hiểu được chứ!”

Thiền sư Tùng Triển biết rõ Thiền sư Trường Khánh đang dở trò thôi, bèn nói: “Ta đã sớm biết rồi, đại Hòa thượng ngươi sẽ nói trên núi thứ hai.”

Thiền sư Trường Khánh Huệ Lăng hỏi ngược lại: “Sư đệ, ngươi cho rằng lời của Như Lai như thế nào?”

Thiền sư Tùng Triển biết sư huynh “không có ý tốt”, nên mỉm cười, nói: “Uống trà đi”. Đây đúng thật là kỳ diệu đến tột đỉnh! Thái Sơn đè lên đầu, trong phút chốc, làm cho nó tan biến vào cõi vô hình; Sóng lớn ngút trời, chỉ vẩy tay nhè nhẹ, đã vỗ về nó trở về với trời trong biển lặng.

Thiền sư Tùng triển, Trường Khánh Huệ Lăng và sư cháu của họ là La Hán Quế Thâm, cùng đi vào thành. Tại một quán trọ họ nhìn thấy một bức bình phong, trên đó có vẽ một đóa hoa mẫu đơn tươi đẹp. Tùng Triển nói: “Một đoá hoa mẫu đơn đẹp!”

Trường Khánh Huệ Lăng nói: “Ngươi chớ nên hoa mắt.”

La Hán Quế Thâm nói: “Đáng tiếc! Một đóa hoa!”

Một đóa hoa mẫu đơn sống động chính là sự thể hiện của diệu tâm viên giác, chân như tự tánh. Cho nên, Thiền sư Tùng Triển nói nó đẹp quá; đóa hoa mẫu đơn vẽ trên bình phong này như huyễn như hóa, hoàn toàn không thật có, nếu bạn cho rằng thật có đóa hoa này, thì cũng giống như cố ý đè hai con mắt để nhìn thấy hoa đốm hư không - hoa mắt; Đáng tiếc rằng người đời không biết đóa hoa này, đem cái vật như huyễn như hóa của chân như tự tánh hiển hiện, mà mê lầm chấp trước, vì thế, La Hán Quế Thâm vô cùng cảm khái.

Ba vị Đại sư lấy hoa để nói thiền, mỗi mỗi đều đầy ý nghĩa sâu xa, thiền cơ lý thú, mỗi mỗi đều như vậy.

Thiền sư Tùng Triển và La Hán Quế Thâm ngồi ngắm trăng, La Hán Quế Thâm nói: “Có mây đang di chuyển, chắc sẽ có mưa phải không?”

Thiền sư Tùng Triển nói một cách đầy thiền cơ: “Không phải mây di chuyển, là gió di chuyển.”

La Hán Quế Thâm cũng không chịu nhường, sắc sảo đối đáp: “Ta thấy mây cũng không di chuyển, gió cũng không di chuyển.”

Tùng Triển “gian tà xảo quyệt”, cười nói: “Nhưng ngươi mới nói là mây di chuyển mà.”

La Hán Quế Thâm thân phận tuy nhỏ, nhưng công phu lại thâm hậu, nhẹ nhàng xoay chuyển tình thế: “Không biết là ai sai nữa?”

Tùng Triển nghe nói sư đệ Trường Sanh Kiểu Nhiên trú trì chùa trên núi nên đến thăm viếng. Họ vừa uống trà vừa tán gẫu. Kiểu Nhiên nói: “Mấy ngày trước, có một vị Tăng hỏi tôi về ý của Tổ sư từ Tây Trúc đến, tôi liền đưa phất trần lên để biểu thị thiền cơ không biết có được hay không?”

Tâm có sự sắc sảo của nó, một mảy may cũng có thể ngộ đạo; không đúng cơ duyên Phật, Bồ Tát cũng không thể giúp người ta khai ngộ. Vì thế, Thiền sư Tùng Triển mới không mắc lừa ông ta, nói: “Ta làm sao dám nói được hay không được? Có người khen việc này giống như mãnh hổ mọc thêm vuốt, có người lại coi thường hủy báng việc này chẳng đáng một xu. Cùng một việc như nhau, vì lý do gì mà khen chê khác nhau?”

Thiền sư Trường Sanh Kiểu Nhiên vội nói: “Câu vừa rồi là do ngẫu nhiên thôi.”

Năm thứ tư niên hiệu Trinh Minh đời Hậu Lương (918 Tây lịch), thứ sử Vương Công ở Đàm Châu sáng lập ra thiền uyển Phúc Kiến, nghênh đón Thiền sư Tùng Triển đến trú trì. Hôm đăng đàn thuyết pháp trong buổi đầu tiên nhậm chức ấy, Vương Công quỳ lễ thỉnh ba lần, tự thân dìu đỡ Thiền sư Tùng Triển mới thăng tòa.

Từ đó, ngài luôn hoằng pháp lợi sanh ở thiền viện Bảo Phúc, nên mọi người xưng là “Bảo Phúc”.

Thiền sư Bảo Phúc Tùng Triển tại pháp đường nói: “Việc này (tham thiền) như lửa do đánh vào đá mà có, như ánh chớp, ngộ được hay không ngộ được, đều không khỏi sẽ bị táng thân mất mạng.”

Thuyết pháp như vậy, thật khiến cho người ta nghi ngờ mờ mịt. Quả nhiên có một thiền tăng từ trong đại chúng đứng dậy, thưa rằng: “Không biết người đã ngộ rồi, có thể tránh được sự táng thân mất mạng hay không?”

Thiền tăng nói: “Nếu không ngộ được, không khỏi khiến cho mọi người chê cười.”

Bảo Phúc Tùng Triển đưa ngón tay cái ra, dường như là khen ngợi nói rằng: “Hành gia! Hành gia!”

Thiền Tăng có đôi điều không hiểu: “Thưa Hòa thượng, ngài nói đây là tâm hành gì vậy ?” Lúc này Bảo Phúc Tùng Triển mới để lộ tin tức chân thật: “Một gáo bùn phân tạt vào mặt mà ngươi cũng không thấy thối sao!”

Cổ nhân dạy, ngộ rồi cũng giống như lúc chưa ngộ. “Kinh Kim Cang” viết: A la hán không cho rằng mình đã đạt đến quả vị A la hán. Có sở đắc, tất có chấp trước, mà còn có một chút ngăn ngại, thì không thể giải thoát triệt để được. Cho nên, người khai ngộ thực sự, sẽ không hét vang trên khắp đường phố: “Ta đại ngộ rồi! Ta thành Phật làm Tổ rồi…”

Thiền sư Bảo Phúc Tùng Triển gặp một vị thiền tăng ở trước đại điện, bèn lấy thiền trượng gõ gõ vào đầu vị Tăng. Tăng nhân đau quá không chịu được nên la lên một tiếng. Thiền sư Bảo Phúc Tùng Triển chỉ cột trụ nói: “Cái kia vì sao không đau?”

Kỳ thật, Ngài đang nhắc nhở tăng nhân, ngay lúc đó nên thể hội “cái kia” tự tánh kia biết đau biết ngứa, tự thân lại không biết đau biết ngứa. Thế mà, vị Tăng này kém cỏi không đối đáp được.

Có một vị Tăng trốn trong một góc nhà, đang lặng lẽ đếm tiền. Thiền sư Bảo Phúc Tùng Triển phát hiện ra ông ta, bèn đưa một cánh tay ra, dường như muốn xin cho một ít tiền vậy: “Xin bố thí cho tôi một đồng tiền.”

Vị Tăng nghi ngờ không hiểu, thưa: “Thưa đại Hòa thượng, vì sao ngài lại đến nông nỗi này?”

“Ta đến nông nổi này mà.” Thiền sư Bảo Phúc Tùng Triển nói. Vị Tăng kia thấy vậy, bèn nói: “Nếu thật sự đã đến nỗi nông nỗi này thì ta cho ngài một đồng rồi đi đi.”

Thiền sư Bảo Phúc Tùng Triển hỏi ngược lại: “Vì sao ngươi lại đến nông nỗi này?”

Một vị đệ tử tham thiền đã lâu thỉnh giáo với Thiền sư Bảo Phúc Tùng Triển rằng: “Cổ nhân dạy, nếu muốn đạt đến con đường vô sanh (tịch tịnh Niết bàn) thì nhất định không biết được bản nguyên. Vậy nguồn gốc bản nguyên là gì?”

Thiền sư Bảo Phúc Tùng Triển im lặng một hồi, sau đó quay đầu lại hỏi Sa di thị giả bên cạnh: “Vừa rồi ông ta hỏi sư phụ gì vậy?”

Không đợi thị giả trả lời, vị đệ tử kia cho rằng thật sự sư phụ không nghe rõ, nên nhắc lại câu hỏi vừa rồi lần nữa. Thế mà lần này lại làm cho Thiền sư Bảo Phúc Tùng Triển nổi giận lôi đình lớn tiếng mắng: “Ta không phải điếc!”

Tuy ngài không điếc, mà vị đệ tử kia lại bị mù, sư phụ dùng phương thức “im lặng” để trực tiếp biểu thị “bản nguyên” của tâm tánh, ông ta lại nhìn mà không thấy, đương nhiên phải bị Sư Phụ trách mắng. Mà bản thân sự trách mắng này, vẫn là đang chỉ cho ông ta thấy: “Ta không điếc, ngươi cũng chớ có mù.”

Một hôm, hai vị vân du đường sá xa xôi áo quần bụi bặm đến thiền viện, Thiền sư Bảo Phúc Tùng Triển hỏi hai người từ đâu đến, một người trong số họ trả lời từ Giang Tây đến. Thiền tông Giang Tây hưng thịnh, chư vị Cao Tăng xuất hiện nhiều, long tượng thành hàng. Cho nên, Bảo Phúc Tùng Triển hỏi: “Học được gì rồi?”

Vị Tăng kia trả lời rất có thiền ý: “Lấy không ra.”

Đúng vậy, Thiền, có thể nói rõ ràng được sao ? Thể nghiệm ở trong tâm có thể lấy ra được hay sao? Vị tăng này dường như là một người có lãnh hội. Thế nhưng, thiền, nếu thật sự không có cách gì để biểu thị, làm sao có thể truyền một mạnh từ đức Phật Thích Ca Mâu Ni cho đến ngày nay được? Nếu các thiền sư ngộ đạo thật sự, thì lại có thể ngay lúc không thể dùng lời ấy, phương tiện mà nói ra, ngay khi không biết làm sao mà chỉ thị rõ ràng! Vì thế, Thiền sư Bảo Phúc Tùng Triển hỏi tiếp: “Cái lấy không ra đó, là thứ như thế nào?”

Vị Tăng kia không đáp được.

Thiền sư Bảo Phúc Tùng Triển quay qua một người khác, vẫn dựa theo hồ lô mà vẽ vá như cũ rồi hỏi: “Từ đâu đến?”

Câu hỏi này dường như là thừa thải. Nhưng mà, nếu thật là lời thừa, thiền sư Bảo Phúc Tùng Triển phải nhọc công làm gì? Quả nhiên, vị tăng này thật sự có chút tin tức, ông ta trả lời: “Giang Tây, chùa Quan Âm.”

Thiền sư Bảo Phúc Tùng Triển tự nhiên đất bằng dậy sóng, sấm nổ giữa trời thanh, đột nhiên đưa ra cơ phong dựng đứng ngàn nhận: “Ngươi có thể nhìn thấy Quan Âm rồi chứ?”

Vị tăng này nghề cao gan lớn, ung dung nói: “Nhìn thấy chứ.”

Lúc Bảo Phúc Tùng Triển hành cước, đã đến chùa Quan Âm, biết rõ tình hình địa lý ở đó, nên hỏi thêm một câu đầy thiền ý: “Lúc ngươi nhìn thấy Quan Âm, ngài đang ở bên trái sông hay là bên phải sông?”

Vị Tăng này trả lời vô cùng tuyệt diệu: “Lúc thấy không phải bên trái cũng chẳng phải bên phải.”

Từ trong câu trả lời thiền cơ như vậy, chúng ta có thể thấy rằng, trung tâm của vấn đề hoàn toàn không phải là Bồ tát Quan Âm, Quan Âm chỉ là một hình ảnh tượng trưng cho thiền mà thôi. Cho rằng đã nhìn thấy Ngài tức là chỉ cho Bát Nhã trực quán của thiền.

Thiền, không có trái phải, bản thân nó là một chỉnh thể hoàn chỉnh, nó là “nhất sắc biên” của “đốn nhất”. Vị tăng đáp lời hiển nhiên phải là một vị thiền giả thực thụ, hiểu rõ thế nào là Bát Nhã trực quán. Cho nên, mới dám tách vi yết trên đầu rồng, nhổ râu trên miệng cọp, đem cơ phong của thiền đưa đến một trình độ tuyệt vời xán lạn nhất.

Thiền sư Bảo Phúc Tùng Triển đã để lại cho thiền lâm một di sản lớn nhất đó là công án “Tứ Mạn Nhân” của ngàiThiền sư Bảo Phúc Tùng Triển hỏi một tăng nhân: “Trong đại điện là gì?”

Thiền tăng biết Hòa thượng biết rõ mà cố hỏi, tất nhiên có ẩn dấu cơ phong, cho nên ông đáp một cách thông minh: “Hòa thượng ngài tự đi xem cho rõ.”

Thiền sư Bảo Phúc Tùng Triển không thèm nhìn mà nói: “Ông Thích Ca kia.”

Thiền tăng chẳng khách khí nói: “Đại Hòa thượng, ngài chớ lừa dối người khác được không!”

“Là ngươi lừa dối ta.” Thiền sư Bảo Phúc Tùng Triển nói.

Tiếp đó, Bảo Phúc Tùng Triển lại hỏi vị tăng kia: “Tên ngươi là gì?”

“Tên tôi là Hàm Trạch.” Vị tăng kia trả lời. Tên của người ta vốn là có ý nghĩa “Ân Trạch Quảng Bị”, Bảo Phúc Tùng Triển lại nói: “Lúc Ân Trạch giống như giọt nước khô thì như thế nào?”

Vị Tăng kia theo lý đương nhiên hỏi lại: “Ai là giọt nước khô?”

Bảo Phúc Tùng Triển nói: “Ta”. Vị tăng kia nói: “Đại Hòa thượng, ngài chớ lừa gạt người khác được không?”

Bảo Phúc lại nói lần nữa: “Nhưng mà ngươi lừa gạt ta.”

sư Bảo Phúc Tùng Triển lại hỏi: “Ngươi làm nghề gì mà dáng vẻ cao to như vậy?”

Hàm Trạch hỏi lại: “Đại Hòa thượng, ngài thấp bao nhiêu?”

Thiền sư Bảo Phúc Tùng Triển hỏi người nấu cơm: “Nồi của ngươi rộng bao nhiêu?”

Người đầu bếp cũng là một người hiểu thiền, hỏi ép sư phụ: “Đại Hòa thượng tự ngài thử lượng xem.”

Thiền sư Bảo Phúc Tùng Triển dùng tay làm tư thế đo đo. Người đầu bếp mắng: “Đại Hòa thượng, ngươi chứ lừa gạt người được không!”

Thiền sư Bảo Phúc Tùng Triển vẫn nói câu nói đó: “Nhưng mà ngươi lừa gạt ta.”

Liên quan đến thiền cơ : Hòa Sơn Bốn Lần Đánh Trống.

Chúng ta thấy công án “Tứ Mạn Nhân” (bốn lần gạt người) của Thiền sư Bảo Phúc Tùng Triển, rất có chút mùi vị ngậm lưỡi cuốc trong miệng - cắn tới nhai lui, rất khó nếm ra được mùi vị. Thế mà, chính công án lời lẽ câu kéo vô vị này mà hơn cả trăm ngàn năm nay lại được thiền giả các thời đại đều cho rằng là phần rất quan trọng của Thiền Tông.

Những công án tương tự với “Bảo Phúc Tứ Mạn Nhân” vẫn còn rất nhiều, chúng ta liệt kê ra một ít để so sánh đối chiếu, từ đó có thể suy ra để biết, hoặc có thể nếm được chút mùi vị, thấy được một chút đường lối.

Có một vị Tăng hỏi Thiền sư Tịnh Quả: “Khi hạc đậu trên cây tùng đơn lẻ thì như thế nào?”. Hạc đậu trên cây tùng cô lẻ, thật là một cảnh giới siêu phàm thoát tục. Thế nhưng, Thiền sư Tịnh Quả lại trả lời: “Dưới chân là một bãi ô uế.”

Thiền tăng lại hỏi: “Khi tuyết trắng phủ đầy núi thì như thế nào?”

Thật là một thế giới thanh tịnh. Nhưng, Thiền sư Tịnh Quả lại nói: “Sau khi mặt trời mọc, quả đất là một đám xấu hổ.”

Thiền Tăng hỏi câu thứ ba: “Đường Vũ Tông vào giữa niên hiệu Hội Xương đã phát động một phong trào pháp nạn trước đây chưa từng có, chùa chiền bị phá hủy, tượng Phật bị đập vỡ, kinh sách bị thiêu rụi, tăng ni bị đuổi, lúc đó, thần hộ pháp đi đâu rồi?”

Thiền sư Tịnh Quả nói: “Hai vị ngoài cửa chùa, là một phường xấu hổ.”

Thiền giả các nơi gọi công án này là: “Tam tu quí” (Ba xấu hổ).

Công án nổi tiếng nhất xứng đáng thuộc về: “Triệu Châu Trà”.

Có hai vị Tăng vân du cùng đến viện Quan Âm của ngài Triệu Châu (nay là chùa Bá Lâm huyện Triệu ở Hà Bắc) viện chủ (giám viện) dẫn họ đến phương trượng bái kiến Triệu Châu Cổ Phật - Đại sư Tùng Thẩm. Đại sư triệu Châu Tùng Thẩm hỏi: “Đã từng đến đây chưa?”

“Con đã từng đến.” Một vị tăng trả lời. Đại sư Triệu Châu bảo: “Được rồi, mời ông uống trà đi.”

Một vị tăng trẻ tuổi khác thưa: “Thưa sư phụ, con chưa từng đến.”

Thiền sư Triệu Châu vẫn nói một câu như trước: “Được rồi, mời ông uống trà đi.”

Ngày xưa trong tòng lâm tiếp đãi những tăng nhân vân du đến ở lại đêm, có tục lệ uống trà. Nhưng đối với người mới đến và khách cũ có sự khác nhau. Đại sư Triệu Châu phá lệ đều bảo họ uống trà đi, không những làm cho hai vị học tăng hoài nghi không hiểu mà ngay cả viện chủ đứng bên cạnh cũng nghi ngờ không chịu được hỏi: “thưa lão Hòa thượng! người đã từng đến chỗ của chúng ta ngài bảo ông ta uống trà đi, người chưa từng đến ngài cũng bảo ông ta uống trà đi, vì sao vậy?”

“Viện chủ!” Đại sư Triệu Châu bỗng dưng hét một tiếng lớn. Viện Chủ giật mình, đáp lại theo bản năng: “Thưa sư phụ, con ở đây.”

“Ông cũng uống trà đi!”

Ba thiền tăng đột nhiên có được tỉnh ngộ. Ba lần uống trà của Triệu Châu, thành tựu được ba đức Phật.

Nhưng công án có tính tiêu biểu nhất là: “Hòa Sơn tứ đả cổ.” (Hòa Sơn bốn lần đánh trống).

Thiền sư Hòa Sơn Vô Ân, họ Ngô, cũng người Phúc Châu. Năm ngài 7 tuổi đã theo Đại sư Tuyết Phong Nghĩa Tồn xuất gia - cũng giống như Thiền sư Bảo Phúc Tùng Triển vậy, nhờ uống no sữa Thiền Tuyết Phong trên núi Tượng Cốt mà trưởng thành. Sau khi thọ giới cụ túc, ngài cũng thảnh thơi rời Phúc Kiến, vân du đến các nơi trong tòng lâm. Có điều khác đó là, lúc ngài tham yết với Thiền sư Cửu Phong Đạo Kiền, một câu khế cơ, những chướng ngại trong tâm, tiêu tan sạch không, thấy rõ bản lai diện mục của mình. Thế rồi ngài trú trì ở Hòa Sơn Cát Châu, đồ đệ theo học đông đúc, khắp nơi ca ngợi.

Thiền sư Hòa Sơn (mất vào năm 960 Tây lịch) lúc thuyết pháp tại pháp đường, thường trích dẫn một đoạn phẩm Quảng Chiếu Không Hữu trong Bảo Tạng Luận: “Học tập là một giai đoạn nghe, tuyệt học là một giai đoạn gần đến gần, vượt lên trên cả hai thứ đó là giai đoạn đạt đến chân lý.”

Một thiền tăng phản ứng rất nhanh, từ trong đại chúng đứng dậy nêu lên một câu hỏi: “Giai đoạn đạt đến chân lý là gì?”

Hòa Sơn không trả lời theo câu hỏi: “Ta chỉ biết đánh trống.”

Một thiền tăng khác từ trong câu trả lời kỳ quái của sư phụ đã thể ngộ được sự nhạy bén của thiền cơ đến nhanh như chớp rồi đi, lập tức truy hỏi: “Chân đế là gì?”

Chân đế chính là cảnh giới tuyệt đối của thiền, hoàn toàn không dính bụi trần, tục đế tương ứng với nó tức là vạn sự vạn vật đều đầy đủ. Chân đế và tục đế không khác tức là Thánh đệ nhất nghĩa đế.

Hòa Sơn làm sao mà trả lời được? Ngài nói: “Ta chỉ biết đánh trống.”

Tiếng trống lần thứ hai, thức tỉnh người đệ tử thứ ba, người đệ tử thay đổi câu hỏi một cách mới mẽ hơn: “Tức tâm tức Phật, con không còn phải hỏi nữa, xin sư phụ nói cho con biết thế nào là “chẳng phải tâm chẳng phải Phật?”

Tức tâm tức Phật, chẳng phải tâm chẳng phải Phật, đều là thiền ngữ do Mã Tổ Đạo Nhất đề xướng rộng rãi, trong tòng lâm không ai không biết, không ai không hiểu. Tức tâm tức Phật còn dễ lý giải; chẳng phải tâm chẳng phải Phật thì rất ít người có thể đạt đến giai đoạn này.

“Ta chỉ biết đánh trống”. Thiền sư Hòa Sơn lại trả lời như vậy, khác nào trên băng lại đổ thêm dầu, thử hỏi ai có thể đi trên đó được.

Chớ nói đường băng trơn, mà có người trượt băng. Thiền tăng thứ tư lên pháp đường hỏi rằng: “Nếu như một người đã tu chứng, đã giải thoát, chứng đắc huệ quả vô thượng đi đến, thì nên hướng dẫn ông ta như thế nào ?”

Thiền sư Hòa Sơn vẫn trả lời như thế: “Ta chỉ biết đánh trống”.

“Thùng, thùng, thùng, thùng !”

Bốn tiếng trống pháp, từ thời cuối nhà Đường vang vọng mãi cho đến hôm nay. Lúc thiền tăng hỏi “cái này”, hỏi “cái kia”, lúc mọi người suy nghĩ về công án này, thì kết luận của mọi người nếu không thế này thì thế kia, luôn luôn không tránh khỏi rơi vào một bên. Vậy thì mọi người nên thành thật đi đánh trống thôi: “thùng” một tiếng trần trụi, thanh tịnh, lan tỏa trong không trung yên tĩnh, lại cùng hòa lẫn trong sự trong sáng vô biên, trong cái không có gì đó, lại không có gì là không có…

Cho nên, mỗi lúc có người đứng trên góc độ danh từ, khái niệm mà tìm tòi truy hỏi, thiền sư liền tìm cách để định tĩnh tư duy của họ, cắt đứt dòng suy nghĩ thông thường của họ, từ đó khiến cho họ nhận thức được rằng, vấn đề của họ hoàn toàn không khế nhập bản thân sinh mạng, rất xa với chân đế của thiền, từ đó giúp họ nhanh chóng giác ngộ.

Thiền đã không khẳng định lại không phủ định, thiền tức là tướng trạng vốn có của sự vật, là bản lai diện mục, là chân đế vốn đầy đủ. Từ quan điểm này mà nói, lúc đối với người hỏi đến những vấn đề liên quan đến đạo Phật, tâm và thiền, câu trả lời của thiền sư Hòa Sơn đều có ý nghĩa.

Bốn lần đánh trống của Thiền sư Hòa Sơn, bốn lần lừa gạt người của Thiền sư Bảo Phúc, ba lần hổ thẹn của thiền sư Tịnh Quả, ba lần uống trà của thiền sư Triệu Châu…. đều là những áo nghĩa thậm thâm vi diệu của các vị đại tông sư đã tu chứng, đã hiểu thấu đưa ra, lấy đà làm cơ dụng tiếp dẫn người đời sau. Cho nên, ở đây không cần phải suy lý, cũng không cần suy lường, ngay lúc không hiểu, liền tại chỗ không hiểu đó phát khởi nghi tình, dụng tâm để tham cứu, cuối cùng cũng có ngày mối nghi bùng vỡ, từ đáy thùng thoát ra.

 

---oo0oo---

BÀI LIÊN QUAN

Lễ lạy chính mình  ( Tuệ Liên và Hải Liên dịch , 208 xem)

Giặc là người thân  ( Tuệ Liên và Hải Liên dịch , 88 xem)

Tư tưởng yếu chỉ của Thiền tông  ( Tuệ Liên và Hải Liên dịch , 104 xem)

Ba phương pháp hành thiền chủ yếu  ( Giáo sư Minh Chi , 123 xem)

Thỏng Tay vào Chợ  ( Hòa thượng Thích Đức Thắng , 108 xem)

Vài suy nghĩ về thiền tông Việt Nam  ( Trần Hồng Liên , 1963 xem)

Thiền  ( J.Krishnamurti - Minh Tâm dịch , 180 xem)

Tư tưởng thiền học qua chí nguyện lập đạo và hoằng hóa của Tổ sư Minh Đăng Quang  ( Hòa thượng Giác Toàn , 2884 xem)

Ngồi rách bồ đoàn  ( Tuệ Liên và Hải Liên dịch , 464 xem)

Thiền ngộ (Phần 3)  ( Tuệ Liên và Hải Liên dịch , 192 xem)

Ý KIẾN BẠN ĐỌC