NI TRƯỞNG HUỲNH LIÊN
  • Thích Nữ Huỳnh Liên
  • Thích Nữ Huỳnh Liên
  • Thích Nữ Huỳnh Liên

 

Nguyện xin hiến trọn đời mình

Cho nguồn Đạo pháp cho tình Quê hương

 

THẬP ĐẠI ĐỆ TỬ
  • Thích Nữ Bạch Liên
  • Thích Nữ Thanh Liên
  • Thích Nữ Kim Liên
  • Thích Nữ Ngân Liên
  • Thích Nữ Chơn Liên
  • Thích Nữ Quảng Liên
  • Thích Nữ Quảng Liên
  • Thích Nữ Tạng Liên
  • Thích Nữ Trí Liên
  • Thích Nữ Đức Liên
  • Thích Nữ Thiện Liên
THÔNG BÁO

Thông báo mời cộng tác viết bài ĐUỐC SEN mùa VU LAN 2019

Đuốc Sen – Đặc san của Hệ phái Khất sĩ, là nơi nói lên quan điểm của người con Phật về các vấn đề văn hóa, giáo dục, hoằng pháp, tâm linh, tu tập… Ngoài ra, đây là kênh của người con Khất sĩ thể hiện nhận thức về nội hàm bộ Chơn Lý của Tổ sư Minh Đăng Quang.

Thông báo thời gian Khóa tu, lễ Tưởng niệm và Phật sự quan trọng trong tháng 3 năm Kỷ Hợi – 2019 của Ni giới Khất sĩ

- Ngày 19 tháng 3: Lễ Tưởng niệm lần thứ 32 Ni trưởng Đệ Nhất - Ngày 24 tháng 3: Lễ khánh thành Tịnh xá Ngọc Quang, ấp Thuận An, xã Long Thuận, TX. Gò Công, Tiền Giang

Thông báo Kỳ thi nhân ngày lễ Tưởng niệm lần thứ 32 Ni trưởng Đệ Nhất

Nhân ngày lễ Tưởng niệm lần thứ 32 Ni trưởng Huỳnh Liên, Đệ Nhất Trưởng Ni giới Hệ phái Khất sĩ Việt Nam, tại Tổ đình Ngọc Phương sẽ tổ chức kỳ thi về cuộc đời và đạo nghiệp của Ni trưởng Đệ Nhất.

VIDEO HÔM NAY

TP.HCM: Khóa tập huấn Truyền thông Phật giáo – Thư ký Văn phòng cho chư Ni và cư sĩ Phật tử - Phật sự online

Pháp âm MP3

  • 0 - Lời Mở Đầu
  • 01 - Võ Trụ Quan
  • 02 - Ngũ Uẩn
  • 03 - Lục Căn
  • 04 - Thập Nhị Nhơn Duyên

LỊCH VIỆT NAM

THỐNG KÊ

 

Trang chủ > PG và Các Ngành

Từ ngữ Phật giáo ảnh hưởng văn hóa Trung Quốc

Tác giả: Tuệ Liên.  
Lượt xem: 5239 . Ngày đăng: 17/04/2014In ấn

Từ ngữ Phật giáo ảnh hưởng văn hóa Trung Quốc

Lý Kiến Hân

Tuệ Liên dịch 

Từ ngữ Phật giáo bắt nguồn từ tiếng Phạn và tiếng Pali Ấn Độ. Thông qua việc phiên dịch kinh điển thành tiếng Hán, từ ngữ Phật giáo được xem là từ ngoại lai lần đầu tiên du nhập vào kho từ vựng tiếng Hán với quy mô lớn nhất, từ ngữ Phật giáo cơ hồ chiếm hơn 90% từ ngoại lai trên lịch sử Hán ngữ. Theo sự truyền bá lâu dài của Phật giáo, ảnh hưởng của Phật giáo càng ngày càng rộng lớn, thấm sâu vào lòng người và số lượng lớn kinh điển Phật giáo được phiên dịch, trong Phật giáo có rất nhiều từ ngữ có ý nghĩa mới, đẹp được hấp thu vào trong kho từ vựng tiếng Hán, từ ngữ Phật giáo do đó đã làm giàu kho từ vựng tiếng Hán, từ đó phát sanh ảnh hưởng sâu rộng đối với văn hóa Trung Quốc.

Do sự dịch thuật kinh điển Phật giáo nên đã nhập vào kho từ vựng Hán ngữ số lượng lớn từ mới. Việc tăng gia từ mới có ba tình huống. Một là một số từ ngữ vốn có của Trung Quốc, được dùng để biểu đạt khái niệm của Phật giáo, do đó mà có ý nghĩa hoàn toàn mới, được xem là từ mới, như tâm, không, chân, quán, định v.v… Đây đều là những danh từ chuyên môn biểu hiện ý nghĩa Phật pháp. Hai là các từ vì phiên dịch đưa ra khái niệm mới mà sáng tạo như Tứ đế, Ngũ ấm, Chân như, Pháp giới, Duyên khởi v.v… Sáng tạo những từ ngữ này phần đông suy nghĩ đến việc kết cấu từ của Hán ngữ và lợi dụng từ tố cấu thành từ ngữ vốn có của tiếng Hán, khái niệm phản ánh là khái niệm ngoại lai, nhưng không lưu lại cho người cảm giác “ngoại lai”, nên rất nhanh chóng dung nhập vào Hán ngữ. Ba là căn cứ quan niệm Phật giáo mà sáng tác thêm từ ngữ mới, như phán giáo, cuồng thiền, chiếu dụng, vạn kiếp nan phục, hồi quang phản chiếu, đầu đầu thị đạo, bổn lai diện mục v.v… Sáng tạo những từ ngữ này trải qua quá trình thời gian rất dài, thường là trong nhiều tên khác nhau, trải qua sàng lọc mới cố định được. Vì trong đó có rất nhiều từ ngữ vốn có sức biểu hiện chính xác mới mẻ, dần dần dung nhập vào trong từ ngữ thông thường hàng ngày, trở thành những từ thường dùng, như thực tế, duy tâm, chánh tông, tư nghì, sám hối, nhân duyên, chân đế, pháp môn, thế giới, giác ngộ, sát na, chánh đáng, bổn thân, phiền não, xuất hiện, xuất tức, phương tiện, tương đối, tuyệt đối, tri thức, đại thiên thế giới v.v…

Từ ngữ Phật giáo đối với từ vựng tiếng Hán phát sanh ảnh hưởng :

Một là sự sáng tạo từ song âm và từ đa âm. Ngôn ngữ thượng cổ Trung Quốc từ đơn âm thường là chủ yếu, dần dần phát triển từ phức hợp là sự tiến hóa của ngôn ngữ. Phiên dịch kinh điển Phật giáo phần đông sử dụng từ song âm và từ đa âm như : Hy vọng, ý thức, phiền não, cơ hội, kết tập, đạo trường, hỏa trạch, giả danh, hý luận, chủng tử, tập khí v.v…, có tác dụng đẩy mạnh sự phát triển của từ vựng tiếng Hán. Những từ ngữ này bản thân của nó cùng với đặc điểm kết cấu từ có ảnh hưởng rất lớn đối với sự phát triển của từ vựng tiếng Hán.

Hai là trong kinh điển Phật giáo thường sử dụng từ dịch âm, và đã tổng kết nguyên tắc dịch âm. Thực hiện việc tổng kết một cách hoàn chỉnh là Ngài Huyền Trang với “Ngũ chủng bất phiên”, tức cần nên sử dụng dịch âm với 5 tình huống sau : Một là “Bí mật”, như Đà la ni trong kinh tức là chú ; hai là “Sanh thiện” như “Bát nhã” có thể dịch là trí huệ, nhưng vì để biểu thị cung kính nên dịch là “Bát nhã” ; ba là “Thử sở vô”, tức Trung Quốc vốn không có sự vật hoặc khái niệm này như Diêm phù đề, Ca lăng tần già ; bốn là “Thuận cổ”, như “Bồ đề” có thể dịch là “Giác”, nhưng đã ước định mà thành, vốn có đã lâu nên không thay đổi ; năm là “Hàm đa nghĩa”, như “Bạt già phạm” có sáu nghĩa. Trên cơ sở dịch âm, Trung Quốc còn sáng tạo ra một loạt từ âm nghĩa hợp dịch, như kệ tụng, thiền định, hữu dư Niết bàn, lục Ba la mật. Theo sự phiên dịch của kinh điển Phật giáo, lại thâu nhập một số từ phổ thông như sát na, kiếp v.v…

Mặt thứ ba là giới thiệu pháp kết cấu từ của ngữ văn ngoại nhập, Phật giáo có sách “Lục ly hợp thích”, là một bộ sách chuyên môn nói về phương pháp kết cấu từ. Sáu phương pháp đó là : Một là Trì nghiệp thích, lấy mối quan hệ thể dụng mà đặt tên, như tàng thức, tàng là dụng, thức là thể ; hai là Y chủ thích, lấy mối quan hệ chánh phụ đặt tên, như căn bổn phiền não, phiền não là chánh, căn bổn là phụ ; ba là Hữu tài thích, lấy nội hàm vốn có mà đặt tên, như hỏa trạch, hỏa thuộc trạch ; bốn là Tổ vi thích, lấy mối liên hợp đặt tên, như nhân duyên, danh sắc, sanh diệt ; năm là Đới số thích, nêu số để đặt tên, như nhị tâm, nhị ngã, nhị nhân, tam giới, tam pháp, tứ đế, ngũ ấm, lục căn, lục đạo, thất đại, thất tông, thập phương, thập niệm v.v… ; sáu là Lân cận thích, lấy mối quan hệ đồng nghĩa đặt tên, như ngũ ấm và ngũ uẩn, lục đạo và lục thú, lục trần và lục cảnh. Đây cũng là phương pháp có hệ thống tổng kết cách kết cấu từ của kinh điển Phật giáo, trong đó phương pháp nêu số đặt tên của đới số thích trong văn hiến cổ đại Trung Quốc chỉ có trường hợp cá biệt như “Mặc tử” giảng về “Tam biểu” chân lý tiêu chuẩn. Mà kinh điển Phật giáo sau khi vận dụng rộng rãi đã phổ cập đến các trước tác sau này, như “Văn tâm điêu long” của Lưu Hiệp thì thường dùng phương pháp cấu kết từ này.

Từ ngữ Phật giáo còn hình thành rất nhiều thành ngữ hoặc điển cố được hấp thu vào trong Hán ngữ như ngũ thể đầu địa, tam sanh hữu hạnh, ba đầu sáu tay, thương phong bại tục, công đức vô lượng, ngưu đầu mã diện, tâm viên ý mã, người mù rờ voi, duy ngã độc tôn, hiện thân thuyết pháp, mượn hoa cúng Phật v.v… Sự thẩm thấu của Phật giáo đối với văn hóa Trung Quốc đã đi vào tầng sâu ý thức của con người, những hình thức ngữ ngôn có sức biểu hiện phong phú, đầy màu sắc tu từ sáng đẹp, cô đọng nhất, sâu sắc nhất, trải qua gọt giũa công phu mà hình thành – thành ngữ tức là sự thể hiện đặc sắc của hình thức này.

Trong thành ngữ Phật giáo, phần đặc sắc nhất là do vận dụng ví dụ mà có được. Phật lý huyền vi, người thường khó mà lĩnh hội, vì thế cần phải “mượn gần để dụ xa, mượn kia để nói đây”, khiến người vui và dễ dàng tiếp nhận. Vì thế ví dụ trong kinh điển thường được sử dụng rộng rãi và có tác dụng rất lớn. Vì những ví dụ này có màu sắc văn học sâu đậm, hình tượng sinh động, phần lớn phù hợp với thói quen tư duy của dân tộc Trung Quốc, vì thế được Hán ngữ hấp thu. Như ví dụ “Trồng dưa được dưa, trồng đậu được đậu”, “như tằm kéo kén buộc mình trong tơ”, của lý nhân quả báo ứng ; dụ “trăng trong nước ảnh trong gương” của lý “Duyên sanh tánh không” ; “Đàm hoa nhất hiện” dụ cho Đức Phật và Phật pháp hy hữu trân quý ; “Như uống đề hồ” dụ cho tiếp thu giáo nghĩa tối cao – pháp vị vô thượng ; “Mộng huyễn bào ảnh”, “điện quang thạch hỏa”, “lông rùa sừng thỏ” dụ cho nhân sanh vô thường, thế sự không huyễn ; “Hằng hà sa số” dụ cho số lượng rất nhiều ; “Khổ hải vô biên hồi đầu thị ngạn” dụ cái khổ của chúng sanh vô lượng vô biên. Những ví dụ có tính chất hình tượng sâu sắc thâm trầm, ngôn ngữ sinh hoạt linh động, vốn phát xuất từ Phật giáo, nhưng đã được nhân dân Trung Quốc sử dụng rộng rãi, do đó thật khó tưởng tượng chúng là từ “ngoại lai”.

Từ ngữ Phật giáo đã làm phong phú kho tàng từ vựng Trung Quốc. Mà từ ngữ Phật giáo lại là công cụ truyền tải văn hóa Phật giáo, thông qua từ ngữ Phật giáo, văn hóa Phật giáo càng ảnh hưởng rộng lớn, thẩm thấu vào trong xã hội Trung Quốc. Phật giáo lưu truyền vào Trung Quốc đã hơn 2000 năm, văn hóa Phật giáo đối với triết học, luân lý học, văn học, nghệ thuật cùng với tâm lý xã hội, phong tục tập quán Trung Quốc… đều phát sanh ảnh hưởng rất lớn.

 

BÀI LIÊN QUAN

Phật giáo và Giáo Dục  ( Tuệ Liên , 6549 xem)

Ảnh hưởng Phật giáo đối với lịch sử văn hóa Trung Quốc  ( Tuệ Liên , 4287 xem)

Những thành tựu của văn học Phật giáo  ( Tuệ Liên , 5430 xem)

Ý KIẾN BẠN ĐỌC