NI TRƯỞNG HUỲNH LIÊN
  • Thích Nữ Huỳnh Liên
  • Thích Nữ Huỳnh Liên
  • Thích Nữ Huỳnh Liên

 

Nguyện xin hiến trọn đời mình

Cho nguồn Đạo pháp cho tình Quê hương

 

THẬP ĐẠI ĐỆ TỬ
  • Thích Nữ Bạch Liên
  • Thích Nữ Thanh Liên
  • Thích Nữ Kim Liên
  • Thích Nữ Ngân Liên
  • Thích Nữ Chơn Liên
  • Thích Nữ Quảng Liên
  • Thích Nữ Quảng Liên
  • Thích Nữ Tạng Liên
  • Thích Nữ Trí Liên
  • Thích Nữ Đức Liên
  • Thích Nữ Thiện Liên
THÔNG BÁO

Thông báo mời cộng tác viết bài ĐUỐC SEN mùa VU LAN 2019

Đuốc Sen – Đặc san của Hệ phái Khất sĩ, là nơi nói lên quan điểm của người con Phật về các vấn đề văn hóa, giáo dục, hoằng pháp, tâm linh, tu tập… Ngoài ra, đây là kênh của người con Khất sĩ thể hiện nhận thức về nội hàm bộ Chơn Lý của Tổ sư Minh Đăng Quang.

Thông báo thời gian Khóa tu, lễ Tưởng niệm và Phật sự quan trọng trong tháng 3 năm Kỷ Hợi – 2019 của Ni giới Khất sĩ

- Ngày 19 tháng 3: Lễ Tưởng niệm lần thứ 32 Ni trưởng Đệ Nhất - Ngày 24 tháng 3: Lễ khánh thành Tịnh xá Ngọc Quang, ấp Thuận An, xã Long Thuận, TX. Gò Công, Tiền Giang

Thông báo Kỳ thi nhân ngày lễ Tưởng niệm lần thứ 32 Ni trưởng Đệ Nhất

Nhân ngày lễ Tưởng niệm lần thứ 32 Ni trưởng Huỳnh Liên, Đệ Nhất Trưởng Ni giới Hệ phái Khất sĩ Việt Nam, tại Tổ đình Ngọc Phương sẽ tổ chức kỳ thi về cuộc đời và đạo nghiệp của Ni trưởng Đệ Nhất.

VIDEO HÔM NAY

Vu lan - chữ Hiếu đong đầy - Hòa Thượng Minh Bửu

Pháp âm MP3

  • 0 - Lời Mở Đầu
  • 01 - Võ Trụ Quan
  • 02 - Ngũ Uẩn
  • 03 - Lục Căn
  • 04 - Thập Nhị Nhơn Duyên

LỊCH VIỆT NAM

THỐNG KÊ

 

Trang chủ > PG và Các Ngành

Tiếng nói thời Hiện đại

Tác giả: C Alexander Simpkins & Annellen Simpkins.  
Lượt xem: 3966 . Ngày đăng: 01/10/2014In ấn

Chương 4: Tiếng nói thời Hiện đại

C Alexander Simpkins & Annellen Simpkins, TT. Minh Thành dịch

Tôn giáo của tôi là Lòng Tử Tế

Đức Đạt-lai Lạt-ma

 

Những người Phương Tây truyền bá Phật giáo Tây Tạng

Một trong những người phương Tây đầu tiên viếng thăm Tây Tạng và để lại những trang viết đầu tiên về những điều mà ông ta mắt thấy tai nghe là một người Anh Quốc tên là L. Austine Waddell. Ông cảm thấy thích thú tìm hiểu Phật giáo và xem Phật giáo là một trong những tôn giáo lớn của thế giới từ năm 1879. Suốt thời gian làm việc cho ngành Y tế Ấn Độ, ông cư ngụ ở đất nước này, nơi mà ông có điều kiện học hỏi sâu xa hơn về Phật giáo. Ông cũng tham gia một số chương trình khai quật, tìm thấy những mảnh xá-lợi của chính Đức Phật; điều này giúp ông khẳng quyết Đức Phật là một nhân vật lịch sử. Tình cờ ông được thuyên chuyển sang Tây Tạng, trú ở Dorjeling và tận dụng cơ hội này để nghiên cứu Phật giáo Tây Tạng, một dạng Phật giáo ít ai biết đến và được mệnh danh là Lạt-ma giáo. Ông học ngôn ngữ là nói chuyện trực tiếp với những vị Lạt-ma và với người dân địa phương.

Tác phẩm, Phật giáo ở Tây Tạng và Lạt-ma giáo, do ông biên soạn là kết quả của những năm tháng ông làm việc ở đó. Xuất bản năm 1894, quyển sách này miêu tả Phật giáo Tây Tạng, một tôn giáo nhiều huyền thuật, bí ẩn, rất là lạ lẫm và thường xuyên khiến cho ông cảm thấy ngạc nhiên. Quyển sách miêu tả chi tiết những gì ông tận mắt thấy và trải nghiệm nhưng vì không có ai đi trước để ông nương theo nên nhận thức của ông thường bị giới hạn và mang ít nhiều định kiến. Tuy nhiên, quả thật ông đã có công lớn, thu hút sự chú ý của người phương Tây.

Walter Y. Evans-Wentz (1878 -1965) là người Hoa Kỳ đầu tiên truyền bá Phật giáo Tây Tạng đến phương Tây ngang qua những dịch phẩm song song với những sớ giải tường tận về 4 bộ đại thánh thư của Tây Tạng. Nổi tiếng nhất là tác phẩm: “Sống Hạnh Phúc, Chết Bình An” (Tibetan Book of the Dead).

Evans-Wentz có một thiên tư tâm linh từ thuở nhỏ. Ông học ở Đại học Stanford và Viện Jê-su ở Oxford, nước Anh. Tiếp tục tìm kiếm ánh sáng tâm linh, ông đi nhiều nơi từ châu Âu đến Ấn Độ. Cuối cùng tìm đường lên Tây Tạng và bị lôi cuốn ngay với bầu không khí đậm đà tâm linh ở đây. Ông theo học với vị Lạt-ma Tây Tạng tên là Kazi Dawa-Samdup, vị hiệu trưởng của một ngôi trường và là vị thông dịch viên chính thức cho Ấn Độ. Evans-Wentz học tiếng Tây Tạng và tiếng Sanskrit. Ông hợp tác với Lạt-ma Samdup. Sau khi vị Lạt-ma qua đời, ông tiếp tục làm việc và trở thành một trong những nhà phiên dịch tiếng Anh đầu tiên (lotsavas: danh xưng ở Tây Tạng dành cho người phiên dịch thánh điển). Ông trở về Hoa Kỳ, chọn sống ở Keystone Hotel, San Diego, California, để được gần với một chi nhánh của thư viện công cộng San Diego. Ông đã sống nhiều năm ở đây để tiếp tục phiên dịch và thực hiện những công trình nghiên cứu.

Evans-Wentz luôn mong mỏi xây dựng một trung tâm tâm linh. Sắp mua được một cuộc đất ở Ấn Độ nhưng chiến tranh thế giới thứ hai bùng nổ; mọi chuyện lỡ dở. Khi ở Hoa Kỳ, từng chút một, ông mua quần thể núi Tecate mà người bản địa Hoa Kỳ gọi là Linh sơn Cuchama, tọa lạc ở vùng biên giới giữa Mễ-tây-cơ với San Diego. Ông tin tưởng rằng những đỉnh núi này biểu trưng cho khát vọng hướng về chánh giác. Ông nói, “Leo được dốc núi dựng đứng không bằng bước chân lên đỉnh ‘thiên giới’ này. Khi trở về, có người tường thuật là đã tìm được sự an tĩnh của tâm hồn trên những đỉnh núi thiêng, có lúc không khác gì được khai tâm điểm đạo (Evans-Wentz 1989, xi).

Không giống như những người phương Tây trước kia, Evans-Wentz phát triển được một cảm nhận sâu xa đối với mật pháp trong Phật giáo Tây Tạng, tiền đề để ông phiên dịch thánh tạng và những bộ chú giải với một văn phong hấp dẫn và khách quan. Govinda, một người bạn học giả Tây Tạng hàng đầu, nói rằng Evans-Wentz đã làm việc “trong tâm trạng thành kính và tinh thần khiêm hạ, xem công việc là một tín cẩn thiên liêng được trao vào tay mình ngang qua nhiều thế hệ sáng tạo, một sự tín cẩn phải được thực hiện với lòng tôn kính cao nhất dù đối với chi tiết nhỏ nhất” (Govinda in Evans-Wentz 1960 lxiii).

Ngày nay đã có rất nhiều những học giả và dịch giả lớn chuyển tải trí tuệ của Tây Tạng vào phương Tây. Một số lớn nghệ thuật Tây Tạng đã được chuyển sang phương Tây để bảo tồn. Chúng ta may mắn có nhiều nguồn tham khảo khi truyền thống nhiều sắc màu và sâu thẳm này đang mở ra nhiều hướng khác nhau để chúng ta thâm nhập và thể nghiệm.

Vị Đạt-lai Lạt-ma Hiện nay, Tenzin Gyatso

Vị Đạt-lai Lạt-ma thứ 14 hiện nay, Tenzin Gyatso (1935 - ) là một nhân vật rất ‘người’ và được nhiều người yêu mến, có một cái nhìn rất thoáng đối với đất nước của mình, đối với Phật giáo Tây Tạng và thế giới.

Đức Đạt-lai Lạt-ma đã trải rộng lòng của mình đồng thời mở cửa ngôi nhà Phật giáo cho tất cả những ai tự mở lòng mình để tiếp nhận hoa trái của Phật giáo. Nhiều diễn viên nam nữ đã hướng về Phật giáo Tây Tạng. Họ tìm thấy ở Phật giáo Tây Tạng có một phương pháp mà mình có thể vận dụng. Những pháp môn mật giáo cho phép đưa triết lý Phật giáo vào trong nếp sống hằng ngày. Thiền quán thánh tướng, một mật pháp khích lệ người ta tự đồng hóa mình với vị thánh và có được những phẩm tính tốt nhất mà người ta có thể hình dung được. Đối với diễn viên điều này là chuyện tự nhiên; họ đã quen với việc đóng vai, và ngay cả việc nhập vai trong giây phút đặc biệt nào đó.

Những người gặp đức Đạt-lai Lạt-ma thường cảm thấy ngạc nhiên đối với khía cạnh hóm hỉnh và khiêm hạ trong tính cách của Ngài. Một trong những sức cuốn hút của ngài là tinh thần vô ngã ‘phơi bày’. Ngài thường nói, “Tôi chỉ là một nhà sư bình thường, không có trí tuệ gì đặc biệt để truyền đạt cả.” Tuy nhiên, Ngài là người có một niềm tin khó ai bì và một tình thương chân thật. Thomas Merton, nhà thần học Thiên chúa giáo nổi tiếng, sau khi đàm đạo với Ngài, nói “Đức Đạt-lai Lạt-ma là một ấn tượng sâu nhất, mạnh mẽ và tỉnh táo. Ngài vĩ đại hơn mức độ tôi đã từng nghĩ... một người rất vững chắc, rộng lượng và ân cần, đầy năng lực khi xử lý những vấn đề lớn” (Merton, 1968).

Những năm xưa

Tenzin Gyatso được tìm thấy khi còn là một cậu bé để trở thành vị Đạt-lai Lạt-ma đời thứ 14. Việc huấn luyện bắt đầu từ lúc 6 tuổi; đã trải qua 18 năm được giáo huấn và rèn luyện cẩn thận để đảm nhận cương vị của mình. Ngài dấn thân xâu sa vào tất cả phương diện của ngành Phật học. Ngài học hỏi với ý muốn khám phá, với thái độ thẳng thắn; những đức tín mà Ngài còn giữ được cho đến ngày nay.

Chương trình dành cho vị vua trẻ rất nặng, và Ngài có bổn phận phải nghiêm túc và có kỷ luật. Nhưng, là một cậu bé, Ngài cảm thấy hứng thú và háo hức muốn biết mọi chuyện và mọi người chung quanh. Ngài bỏ rất nhiều thời gian nói chuyện với mọi người, từ những người lao công thấp kém nhất đến những vị giáo thọ cao cấp nhất. Một sở thích khác của Ngài là cặm cụi với những món đồ cơ khí. Ngài sửa chữa mọi thứ mà Ngài có thể tìm thấy trong cung điện. Ba chiếc xe hơi của cả nước Tây Tạng đều đậu ở đây và vị Đạt-lai Lạt-ma trẻ tuổi đã bỏ nhiều thời gian để mày mò sửa chữa chúng. Những vị trưởng bối hết hồn khi cậu ta lái một chiếc xe ra ngoài. Thời ấy Tây Tạng chưa có đường trải phẳng. Lái xe trên mặt đất gồ ghề thì chẳng được gì cả khi hệ thống thắng bị hư. Vị Đạt-lai Lạt-ma lại hăng hái sửa chữa. Người anh của Ngài, Tendzin Choegyal nói, “Một trong những khám phá vĩ đại nhất của vị Đạt-lai Lạt-ma trong những năm này là super-glue (keo dán sắt) -- kế đến, một khám phá mới mẽ hơn nữa là chất để gỡ keo dán sắt” (Gluckman, 1996).

Đức Đạt-lai Lạt-ma rất hiếu kỳ đối với văn hóa phương Tây. Cuộc sống kín cửa khiến Ngài biết rất ít về phương Tây. Ông Heinrich Harrar chạy thoát khỏi trại tập trung tù nhân trong chiến tranh thế giới thứ hai bằng cách leo ngược lên dãy Hy-mã-lạp-sơn đến Tây Tạng; Ông được đức Đạt-lai Lạt-ma đón mừng như đón một người bạn, một người thầy từ thế giới bên ngoài. Harrar đã xây dựng một rạp chiếu phim và qua đó Đức Đạt-lai Lạt-ma đã xem nhiều phim Mỹ. Ngài đặc biệt ưa thích những cuộc phiêu lưu của người hùng điện ảnh, John Wayne. Ngài nay Ngài không còn thì giờ dành cho việc xem truyền hình và phim ảnh nữa, trừ mẩu tin vắn hàng ngày của Đài truyền hình BBC phát sóng. Tuy nhiên, Ngài vẫn trân trọng khoảng thời gian mà Ngài cùng với ông Harrar khám phá văn minh phương Tây.

Kết thúc giai đoạn giáo dục chính quy, vị Đạt-lai Lạt-ma trải qua một kỳ thi sát hạch vấn đáp khắc nghiệt kéo dài suốt ba tháng với sự chứng dự của hàng ngàn tăng lữ và học giả. Ngài đã trải qua kỳ thi sơ khảo ở 3 đại học tăng viện Tây Tạng vào năm 1958. Kỳ thi chung khảo được tổ chức năm 1959 ở chùa Jokhang, Lhasa. Từ sáng đến tối vị Đạt-lai Lạt-ma bị chất vấn liên tục về luận lý học, triết học, và các nguyên lý của đạo Phật; từng năm, từng năm học tập của Ngài đều được đưa ra khảo hạch và Ngài đã vượt qua với những danh hiệu vinh dự nhất, đạt được học vị cao nhất của ngành Phật học.

Nhà Lãnh đạo Chính trị

Giai đoạn vị Đạt-lai Lạt-ma chưa trưởng thành, một vị nhiếp chính được chỉ định để điều hành chính quyền Tây Tạng. Nhưng những biến động chính trị xảy ra khi quân đội Trung Quốc tiến vào Tây Tạng. Điều này khiến cho vị Đạt-lai Lạt-ma 15 tuổi phải tự đảm đương trách nhiệm sớm hơn 3 năm so với truyền thống. Ngài đã nắm lấy quyền lực chính trị và tất cả những quyết định cân não phát sinh từ cuộc khủng hoảng.

Đức Đạt-lai Lạt-ma đã chọn con đường thương lượng với Trung Quốc và đã nỗ lực suốt 15 năm cho việc sống chung hòa bình. Ngài viếng thăm Trung Quốc năm 1954, sau chuyến du hành dài ở Bắc Kinh, Ngài trở về mang theo nhiều hy vọng. Nhưng sau đó tình trạng tồi tệ đi khi những cuộc thương lượng đổ vở. Ngài đã rời khỏi Tây Tạng vào nữa đêm 31 tháng 3, 1959, để tiếp tục nỗ lực từ nền tảng an ninh ở Ấn Độ.

Đức Đạt-lai Lạt-ma xây dựng một chính phủ lưu vong ở Dharamsala, Ấn Độ, và lưu ngụ cho đến hôm nay. Chính quyền Ấn Độ đã giúp Ngài xây dựng trường học, xưởng thủ công, bệnh viện, cô nhi viện, tu viện và những cơ sở văn hóa. Ngày nay đã có được 53 khu định cư Tây Tạng ở Ấn Độ. Chính phủ của đức Đạt-lai Lạt-ma đã cho ra đời nhiều ấn phẩm, thành lập nhiều tổ chức từ thiện để duy trì và phát huy nền văn hóa Tây Tạng, Phật giáo Tây Tạng.

Vị Lãnh đạo Tinh thần

Lưu xuất từ cội nguồn Phật giáo, sức mạnh nội tâm của Đức Đạt-lai Lạt-ma đã giúp cho Ngài có thể yêu thương kẻ thù như yêu thương bạn bè. Ngài có cảm giác rằng tiếng kêu gọi của Ngài không phải để giúp cho đất nước của Ngài mà thôi, mà còn giúp cho nhân loại hướng về một nếp sống tâm linh cao hơn.

Thông điệp của tôi là thực hiện lòng từ bi, yêu thương, và hành xử tử tế. Những điều này rất lợi lạc cho cuộc sống hàng ngày của chúng ta; đối với tổng thể xã hội loài người, những thực hiện đó có thể rất là quan trọng. (Đạt-lai Lạt-ma, 1988)

Đức Đạt-lai Lạt-ma đã tham gia nhiều cuộc đối thoại thẳng thắn với những người từ khắp nơi trên thế giới. Ngài rất khâm phục nhãn quang của phương Tây và cũng đã chia sẻ những ý tưởng của Phật giáo Tây Tạng với những người Tây phương. Ngài viết trong quyển tự truyện:

Với những tác động càng lúc càng mạnh của khoa học đối với đời sống của chúng ta, tôn giáo và những truyền thống tâm linh có vai trò quan trọng hơn nữa trong việc giúp cho chúng ta ý thức về nhân tính. Không hề có sự đối nghịch giữa hai bên. Mỗi bên cung cấp cho chúng ta ánh sáng nhận thức về bên kia. Cả khoa học và những lời dạy của Đức Phật đều nói cho chúng ta biết về sự nhất thể căn bản của tất cả các pháp. (Tenzin Gyatso 1990, 270)

Ngang qua việc tận tụy đối với những giá trị tâm linh, Ngài đã truyền thừa một truyền thống tâm linh xa xưa, trước hết là trong đất nước rừng núi xa xôi cách trở của Ngài và giờ đây Ngài lại chia sẻ với cả thế giới. Ngài tin tưởng rằng bất cứ ai cũng có thể phát huy được những phẩm chất tốt đẹp của tình yêu thương và lòng từ ái. Cộng đồng thế giới đã nhận ra được những nỗ lực của Ngài, trao cho Ngài giải thưởng Nô-ben hòa bình năm 1989.

Đức Đạt-lai Lạt-ma mở rộng tấm lòng đối với mọi hệ tín ngưỡng và khuyến khích mọi người hãy sống với tôn giáo của riêng mình. Ngài tin tưởng rằng Phật giáo Tây Tạng có thể giúp cho người tăng cường và phát huy đời sống tâm linh của cá nhân, bất kỳ dạng tâm linh nào. Ngài nói, “Xa hơn nữa tôi còn tin rằng tất cả những tôn giáo đều theo đuổi những mục tiêu giống nhau: những mục tiêu đó là tu tập sự tử tế và mang lại hạnh phúc cho tất cả con người. Mặc dầu những phương tiện có thể khác nhau bề ngoài, những cứu cánh đều giống nhau” (Tenzin Gyatso 1990, 270). Ngài hi vọng làm thức tỉnh tất cả mọi người bằng tình thương yêu và lòng từ ái.

---oOo---

Nguồn: Đạo Phật Khất Sĩ

Ý KIẾN BẠN ĐỌC