NI TRƯỞNG HUỲNH LIÊN
  • Thích Nữ Huỳnh Liên
  • Thích Nữ Huỳnh Liên
  • Thích Nữ Huỳnh Liên

 

Nguyện xin hiến trọn đời mình

Cho nguồn Đạo pháp cho tình Quê hương

 

THẬP ĐẠI ĐỆ TỬ
  • Thích Nữ Bạch Liên
  • Thích Nữ Thanh Liên
  • Thích Nữ Kim Liên
  • Thích Nữ Ngân Liên
  • Thích Nữ Chơn Liên
  • Thích Nữ Quảng Liên
  • Thích Nữ Quảng Liên
  • Thích Nữ Tạng Liên
  • Thích Nữ Trí Liên
  • Thích Nữ Đức Liên
  • Thích Nữ Thiện Liên
THÔNG BÁO

Thông báo mời cộng tác viết bài ĐUỐC SEN mùa VU LAN 2019

Đuốc Sen – Đặc san của Hệ phái Khất sĩ, là nơi nói lên quan điểm của người con Phật về các vấn đề văn hóa, giáo dục, hoằng pháp, tâm linh, tu tập… Ngoài ra, đây là kênh của người con Khất sĩ thể hiện nhận thức về nội hàm bộ Chơn Lý của Tổ sư Minh Đăng Quang.

Thông báo thời gian Khóa tu, lễ Tưởng niệm và Phật sự quan trọng trong tháng 3 năm Kỷ Hợi – 2019 của Ni giới Khất sĩ

- Ngày 19 tháng 3: Lễ Tưởng niệm lần thứ 32 Ni trưởng Đệ Nhất - Ngày 24 tháng 3: Lễ khánh thành Tịnh xá Ngọc Quang, ấp Thuận An, xã Long Thuận, TX. Gò Công, Tiền Giang

Thông báo Kỳ thi nhân ngày lễ Tưởng niệm lần thứ 32 Ni trưởng Đệ Nhất

Nhân ngày lễ Tưởng niệm lần thứ 32 Ni trưởng Huỳnh Liên, Đệ Nhất Trưởng Ni giới Hệ phái Khất sĩ Việt Nam, tại Tổ đình Ngọc Phương sẽ tổ chức kỳ thi về cuộc đời và đạo nghiệp của Ni trưởng Đệ Nhất.

VIDEO HÔM NAY

TP.HCM: Khóa tập huấn Truyền thông Phật giáo – Thư ký Văn phòng cho chư Ni và cư sĩ Phật tử - Phật sự online

Pháp âm MP3

  • 0 - Lời Mở Đầu
  • 01 - Võ Trụ Quan
  • 02 - Ngũ Uẩn
  • 03 - Lục Căn
  • 04 - Thập Nhị Nhơn Duyên

LỊCH VIỆT NAM

THỐNG KÊ

 

Trang chủ > PG và Các Ngành

Phật giáo và Giáo Dục

Tác giả: Tuệ Liên.  
Lượt xem: 6547 . Ngày đăng: 15/04/2014In ấn

Phật giáo và Giáo Dục

(Đại sư Tinh Vân, Phật Quang Sơn Giáo Khoa Thư quyển 8 Phật giáo và Thế học - bài số 6)

Thích Tuệ Liên dịch

Giáo dục là phương pháp mà nhân loại dùng để truyền đạt và khai triển văn minh, ông Địch Lạc (Jacques Delors), chủ tịch Tổ chức Giáo dục Khoa học và Văn hoá Liên Hiệp Quốc (tiếng Anh: United Nations Educational Scientific and Cultural Organization, viết tắt UNESCO), từng nói: “Giáo dục là cơ sở thành trưởng của cộng đồng nhân loại, phương hướng giáo dục chính xác, thì tư chất Chân, Thiện, Mỹ của nhân loại sẽ được phát dương đề cao, sự hoà hợp tiến bộ của thế giới rất dễ dàng thành đạt”. Sự quan trọng của giáo dục như thế, do đây mà có thể thấy được.

Sau khi Đức Phật thành đạo, vì biết rõ sự quan trọng của giáo dục, cho nên trong thời gian 49 năm trụ thế, Ngài đã tuyên dương giáo hoá, mục đích là để giáo dục cho chúng sanh khai phát Chân Như Tự Tánh để đạt được cuộc sống tự tại giải thoát. Đức Phật đã thuyết ra Tam Tạng 12 bộ kinh cho đến thân giáo không lời, không những là khuôn mẫu điển hình của nền giáo dục ngày hiện nay, mà kỳ thực cũng chính là 1 bộ lịch sử giáo dục tinh thâm vĩ đại, tất cả những tri thức, đức tánh, tư tưởng, kỹ năng của thế gian đều ở trong phạm vi giáo dục của Đức Phật.

Sự giáo dục của Đức Phật, đầu tiên là xem trọng sự tu dưỡng của lời nói, việc làm, cử chỉ, phẩm hạnh, đạo đức, đó là “Giới học”; thứ đến xem trọng sự chế ngự, thúc liễm thân tâm gọi là “Định học”; tiếp tới xem trọng sự khai mở Chân Như Tự Tánh, tức là “Huệ học”. Phật Đà không những khéo dẫn dụng 12 phần giáo([1]), những câu chuyện bổn sanh, nhân duyên, cùng với các pháp môn Tứ Nhiếp Pháp([2]), Tứ Tất Đàn([3]) v.v… mà sự giáo dục của Ngài còn đặc biệt chú trọng về giáo tài và giáo học pháp, tức là tuỳ theo bệnh mà cho thuốc, quan sát căn cơ của chúng sanh mà thuyết giáo. Ví như khi Đức Phật thuyết pháp trưởng giả thì đưa ra “Mười đức của trưởng giả”([4]); nói về pháp nhi đồng thì đưa ra “Bốn điều nhỏ không thể khinh thường”([5]); nói về pháp bạn bè thì nói rõ “Bạn bè có 4 phẩm”([6]); nói pháp vợ chồng thì ví dụ “Vợ chồng như chim chung mạng sống”([7]); Phật Đà ở trong các Kinh Điển như Thiện Sanh kinh, Ưu Bà Tắc Giới Kinh, có rất nhiều giáo thị rất hay về đạo Cha Mẹ và con cái, đạo chủ và tớ…

Lại như Đức Phật đối với thương nhân, thì nói phương pháp kinh doanh, đối với nông phu thì nói phương pháp cày cấy trồng trọt, đối với chính trị gia thì nói về con đường trị nước, đối với Châu Lợi Bàn Đặc là người ngu dốt thì dạy “Quét bụi trừ dơ”; đối với Nhị Bách Ức Nhĩ xuất thân là người chơi đàn thì dùng ví dụ “Tu hành như gảy đàn”; đối với người mẹ mất đi đứa con yêu quý thì dùng phương pháp phương tiện thiện xảo “Cỏ cát tường” để hoá độ.

Đức Phật không những khéo giáo hoá, mà còn đề xướng “Tự ngã giáo dục”; như Kinh A Hàm nói: “ Tự nương vào mình, nương vào Phật pháp, chớ nên y chỉ chỗ khác”; kiến lập lòng tin của tự thân. Đức Phật xem trọng sự điều phục của tâm tánh, ví dụ như ngựa tốt thì thấy bóng roi đã chạy, nhưng đối với con ngựa hoang hung hăng không thuần thì phải trải qua sự điều phục, điều phục chính là 1 loại giáo dục, vì thế Kinh Kim Cang chỉ ra đạo lý “Hàng phục kỳ tâm”.

Phương pháp giáo dục của Đức Phật linh hoạt vi diệu và còn hữu giáo vô loại – bất luận giàu nghèo trí ngu đều có thể giáo dục, Ngài nhắm đến căn cơ của chúng sanh hoặc là “lấy sự giáo dục quyền xảo, lấy độc trị độc”, hoặc là ban cho “sự giáo dục viên dung lấy sự để làm rõ lý”; hoặc là “lấy sự giáo dục mở mang trí thức, làm cho thông hiểu, lấy xưa để chứng nay”; hoặc là “sự giáo dục bằng các câu chuyện ví dụ mà ý tứ sâu sắc, lấy trí để vào đạo”; hoặc là “lấy sự giáo dục thọ ký để ban cho đệ tử sự khích lệ”. Đức Phật đối với các đệ tử rất ít khi đánh mắng, cự tuyệt, trách móc, phủ định, mà phần đông đều dùng phương thức quan tâm khích lệ, khiến cho đệ tử biết lỗi mà sửa lỗi, mà không làm thương tổn đến sự tôn nghiêm của họ.

Đức Phật lấy thân giáo để thay thế cho ngôn giáo, sau khi truyền đến Trung Quốc các vị Cao Tăng Đại Đức nhiều đời không ai mà không nương theo phong phạm này, lấy đó để giáo dục đệ tử. Như Thiền Sư Tiên Ngạn “Trời tối lạnh rồi mặc thêm cái áo nữa”; để mà cảm hoá học Tăng thường hay đi chơi đêm; Thiền Sư Kim Đại “Không phải vì giận mới trồng hoa lan”, khiến cho đệ tử tự mình nhận thức được điều sai lầm; Thiền Sư Triều Châu “Tiểu tiện người khác không thể thay thế được”, để nói rõ thành Phật phải đảm đương việc trước mắt; Thiền Sư Lương Khoan “Tuổi lớn rồi cột dây giày cũng không cột được”, để dạy cho người cháu phải sửa tâm đổi tánh, Thiền Sư Nam Ẩn “Ly trà đầy rồi”; Thiền Sư Viên Đầu “Giáo dục đệ tử như chăm sóc cây cỏ”… đều là những thân giáo hay nhất, vì thế có thể phát huy công năng giáo hoá trong vô hình, làm cho họ thay đổi lúc nào không hay.

Tự viện Tùng Lâm xưa kia của Trung Quốc như một trường học, là nơi để cho thanh niên học tử mười phương tiến tu. Nhất là từ kiến trúc của Tùng Lâm, tổ chức nhân sự cho đến việc thờ cúng Thánh tượng Bồ Tát, chư Phật ở trong tự viện, đâu đâu cũng hiện bày ra hàm ý giáo dục.

Về phương diện kiến trúc “Văn Thuỷ Đường” thuyết minh người xuất gia với cuộc sống tu hành tiêu dao tự tại “Nhất bát thiên gia phạn, cô thân vạn lý du” (một bát muôn ngàn nhà, thân đi muôn dặm xa); “Thượng khách đường” có nghĩa là trong Tùng Lâm tiếp đãi Tăng khách giống như là Thượng Khách. Trong Tùng Lâm cách xưng hô của chức sự không phải “chủ” thì là “đầu”, ví dụ như “Tạng chủ”, “Trang chủ”, “Khế đầu”, “Phạn đầu”, “Tịnh đầu”… đã nói rõ sự tôn trọng của Phật giáo đối với các chức vụ, nhân cách Tăng chúng, đây là một trong những đặc sắc giáo dục của Phật giáo.

Từ Thánh tượng Bồ Tát, Đức Phật được thờ cúng trong Phật điện, cũng có thể hiểu được ý nghĩa giáo dục trong chốn Tùng Lâm. Ví dụ ngay từ cửa vào của tự viện, đều là phụng thờ Bồ Tát Di Lặc miệng cười hoan hỷ. Khi vào trong cửa là Bồ Tát Vi Đà Kim Cang nộ mục oai nghi lẫm liệt. Đó là biểu thị trong Phật môn nói lên sự từ bi nhiếp thọ và sức chiết phục quan trọng như nhau.

Và các đại điện của Tự viện thường ở chính giữa là thờ Đức Phật Thích Ca Mâu Ni, bên phải là Ngài Tôn Giả A Nan đa văn đệ nhất, bên trái là Tôn Giả Đại Ca Diếp đầu đà đệ nhất. Đa văn trọng giải, Đầu đà trọng hành, giải hành đều xem trọng, tri hành hợp nhất, phước huệ song tu, đó là giáo dục của Đức Phật. (Lời người dịch: Hành giải : gọi chung Hành và Giải. Hành có nghĩa là tu hành, tức y theo giáo lý mà tự thân thực hành ; Giải là tri giải, trí giải, nhận thức, tức do thấy nghe học tập mà hiểu rõ lãnh hội giáo lý. Do thấy nghe học tập mà hiểu rõ lãnh hội giáo lý, từ đó thực hành theo những giáo lý đã hiểu. Hiểu chân lý và tu hành là hành giải tương ưng, hành giải cụ túc, khai giải lập hành. Giải và hành ví dụ như hai cánh của con chim, như hai bánh của chiếc xe, thiếu một không được, cũng là y giải mà khởi hành, y hành mà thực giải. Giải và hành đều là pháp môn căn bổn của người học đạo, nên chia thành giải học và hành học)

Giáo dục của Tùng Lâm không chỉ là sự truyền thọ trí thức, mà càng xem trọng sự sinh hoạt, tư tưởng, luân lý, đạo đức, nhân cách, cho đến sự đào luyện oai nghi. Vì thế phương pháp giáo dục của Tùng Lâm còn được gọi là giáo dục cuộc sống “bửa củi, gánh nước; phương thức giáo dục tuỳ theo năng lực, căn cơ mà truyền trao giáo pháp; giáo dục đánh hét vô tình, vô lý (Từ điền Thiền tông: Cách tiếp hoá đệ tử của Tổ sư Thiền tông. Bậc thầy giỏi trong nhà Thiền, khi tiếp dẫn người học thường dùng tiếng hét hoặc dùng gậy đánh để dứt hẳn sự suy nghĩ hư vọng của họ, hay nhằm khảo nghiệm chỗ ngộ của họ); giáo dục nỗ lực hành trì phước huệ song tu”. Phàm như thế chỉ là mong muốn thông qua sự đào luyện đại chúng cùng tu ở trong Tùng Lâm, rèn luyện Tăng cách, thành tựu pháp khí. Vì thế Tùng Lâm còn được gọi là “Hồng Lô Đại Dã”, có nghĩa là lò rèn luyện lớn.

“Nhân năng hoằng đạo, phi đạo hoằng nhân”, người có thể hoằng dương đạo, chớ đạo không thể hoằng dương người; thông qua sự giáo dục bồi dưỡng nhân tài hơn 2000 năm trước, phương pháp giáo dục của Đức Phật đã được lưu truyền cho đến ngày hôm nay. Hiện nay Phật Quang Sơn vì “Phật Quang phổ chiếu ba ngàn thế giới, nước pháp trường lưu khắp năm châu”, từ bao nhiêu năm nay đã nương theo phương châm “giáo dục cuộc sống thì xem trọng hơn giáo dục trí thức, giáo dục đạo đức thì xem trọng hơn giáo dục công danh lợi lộc, giáo dục giúp đỡ mọi người thì xem trọng hơn giáo dục lợi mình, giáo dục tự giác thì trọng hơn giáo dục tiếp thu thọ nhận”, đã tích cực đẩy mạnh giáo dục Tăng Già([8]), giáo dục tứ chúng([9]), giáo dục xã hội([10]), giáo dục nhi đồng([11]), giáo dục thanh niên([12])… Thậm chí còn có ý muốn thay chính phủ thiết lập “Trường từ tâm”([13]), mong rằng thông qua giáo dục Phật hoá bi trí song vận, khai phát Chân, Thiện, Mỹ của nhân tánh, bắt đầu từ giáo dục tịnh hoá nhân tâm cùng chung đẩy mạnh hoà bình thế giới, xây dựng cõi Tịnh Độ nhân gian, thượng thiện nhân cùng tụ hội một chỗ.

 

          Câu hỏi

  1. Đưa ra ví dụ trình bày những đặc sắc phương pháp giáo dục của Đức Phật.

2. Đưa ví dụ nói rõ Đức Phật “nhân tài thí giáo” ( phương thức giáo dục tuỳ theo năng lực, căn cơ mà truyền trao giáo pháp) như thế nào?

3. Trình bày đơn giản nội dung phương pháp giáo dục Tùng Lâm.

4. Trình bày sự quan trọng của nền giáo dục Phật giáo đối với sự ổn định xã hội.

 


[1]. Tức là 12 loại phương thức thuyết pháp của Đức Phật, có thể lấy 1 câu kệ để biểu đạt, tức “Trường hàng, trùng tụng, tịnh cô khởi; tỷ dụ, nhân duyên, dữ tự thuyết; bản sanh, bản sự, vị tằng hữu; Phương đẳng, luận nghị, cập ký biệt.

[2]. Tức bố thí, ái ngữ, lợi hành, đồng sự.

[3]. Tứ tất đàn là Đức Phật dùng 4 phương thức để thành tựu chúng sanh trong việc giáo hoá, Tất đàn nghĩa là thành tựu: là thế giới Tất đàn, các các vị nhân tất đàn, đối trị tất đàn, đệ nhất nghĩa tất đàn. (Từ điển Phật học: Giáo pháp mà đức Phật dùng để giáo hoá, dẫn dắt chúng sinh có thể được chia làm 4 phạm trù, gọi là Tứ tất đàn. Tất đàn là từ ghép chung cả tiếng Phạm và Hán. Tất nghĩa là khắp hết; đàn nói đủ là đàn na, dāna, có nghĩa là Bố thí; Phật dùng bốn pháp này để bố thí khắp hết tất cả chúng sinh. Theo Luận Đại trí độ của Bồ tát Long Thọ, Tứ tất đàn có đại ý như sau: 1. Thế giới tất đàn: Tuỳ thuận theo pháp thế gian mà nói nghĩa nhân duyên hoà hợp; cũng tức là dùng những pháp phổ thông ở thế gian như tư tưởng, ngôn ngữ, quan niệm... để thuyết minh chân lý duyên khởi. Chẳng hạn như: Con người là do nhân duyên hoà hợp mà có, vì thế nên chẳng phải là thực thể. Cho rằng con người có thật xưa nay vốn là cái thấy phổ thông của thế tục, nên Phật nói pháp thích hợp với thế tục để thuận theo mọi người, khiến cho phàm phu vui mừng mà được chính trí thế gian, cho nên Tất đàn này còn được gọi là Lạc dục tất đàn. 2. Các vị nhân tất đàn: Gọi tắt là Nhân tất đàn. Tức tuỳ theo căn cơ và năng lực khác nhau của mỗi chúng sinh mà nói các pháp thực tiễn xuất thế, khiến chúng sinh sinh khởi niệm thiện căn, cho nên cũng gọi là Sinh thiện tất đàn. 3. Đối trị tất đàn: Đối với phiền não của chúng sinh như tham, sân, si... tuỳ bệnh mà cho thuốc pháp để đối trị. Đây là giáo pháp nhằm diệt trừ phiền não và ác nghiệp của chúng sinh. Vì giáo pháp này có công năng dứt các điều ác của chúng sinh, cho nên cũng gọi là Đoạn ác tất đàn. 4. Đệ nhất nghĩa tất đàn: Tức dẹp bỏ tất cả ngôn ngữ, luận nghị mà trực tiếp dùng Đệ nhất nghĩa đế giải thích rõ lý thực tướng của các pháp, khiến chúng sinh chân chính khế nhập giáo pháp, cho nên cũng gọi là Nhập lý tất đàn).

[4]. Tức tánh quý: dòng tộc cao quý; vị cao: địa vị cao, đại phú: giàu lớn; uy mãnh: uy nghiêm; thâm trí: trí huệ rộng lớn; niên kỳ: tuổi cao đức trọng, được mọi người kính ngưỡng; hành tịnh: liêm khiết chí công vô tư; lễ bị: uy nghi hòa ái, được mọi người chiêm ngưỡng, noi theo; thượng hoan: do có tài đức nên được người trên khen ngợi tán thán; hạ quy: khiêm nhường đối đãi nên được người dưới hướng về.

[5]. Phật Đã từng khai thị cho vua Ba Tư Nặc rằng, không thể khinh thường các thứ còn nhỏ, như một đốm lửa còn nhỏ, một con rắn còn nhỏ, một vương tử còn nhỏ, nhất là không thể khinh thường một chú tiểu còn nhỏ, đó gọi là bốn thứ nhỏ không thể khinh thường.

[6]. Đức Phật từng bảo đệ tử, bạn bè có bốn loại: Có bạn như hoa, có bạn như cân, có bạn như núi, có bạn như đất, đó là “Bạn có bốn phẩm”.

[7]. Trong Kinh Phật thường ví dụ vợ chồng như “cộng mệnh điểu”. Loại chim này có một thân mà hai đầu, sanh tử sống chết thường nương tựa vào nhau không rời.

[8]. Phật Quang Sơn về phương pháp giáo dục Tăng già: thiết lập Phật học viện Phật giáo Đông Phương, Học viện Tùng Lâm, Viện nghiên cứu Phật giáo Trung Quốc để đẩy mạnh giáo dục Phật giáo, bồi dưỡng Tăng Ni trẻ làm mục tiêu.

[9]. Phật Quang Sơn về phương diện giáo dục tín chúng thì có Khóa bồi dưỡng Giảng sư, Khóa bồi dưỡng Tín đồ, Đô thị Phật học viện, Khóa tu mùa hè, khóa giảng Phật học một tuần, Khóa học dành cho Phụ nữ, Khóa tu cho người xuất gia ngắn ngày, Khóa tu các ngày nghỉ lễ… Hy vọng tín đồ sau khi nhận sự giáo dục Phật Pháp thì có thể đem Phật pháp vận dụng vào cuộc sống hàng ngày, thì có thể đạt đến mục tiêu Phật pháp hóa trong cuộc sống.

[10]. Phật Quang Sơn về phương diện đẩy mạnh giáo dục xã hội: Đại học Tây Lai ở Los Angeles (Lạc Sam Cơ, thành phố lớn nhất bang California) nước Mỹ, đại học Phật Quang, đại học Nam Hoa ở Đài Loan, đại học Hoằng Đạo ở Đại Lục; trung học thì có trung học Phổ Môn… Tông chỉ là vì xã hội bồi dưỡng những thanh niên ưu tú có phẩm hạnh, đạo đức cao thượng cực lực đẩy mạnh giữ gìn nếp sống tốt, có trách nhiệm giáo dục, tịnh hóa nhân tâm.

[11]. Phật Quang Sơn về phương diện giáo dục nhi đồng có trường mầm non Từ Ái ở Nghi Lan, trường mầm non Từ Hàng ở Đài Nam, trường mầm non Huệ Từ ở Thiện Hóa, trường mầm non Phổ Môn Phật Quang Sơn, trường mầm non Đại Từ… lấy nước pháp từ bi thiện lành để tưới cho các mầm non Bồ đề, nung đúc phẩm tánh, bồi dưỡng tánh tình, mong vì quốc gia, Phật giáo đào tạo nhân tài.

[12]. Phật Quang Sơn về phương diện giáo dục thanh niên, có trường Cao Đẳng Phật học, Khóa tu mùa hè, Khóa tu xuất gia tu học ngắn ngày, Thanh niên hội… Thanh niên trí thức học Phật không những nâng cao tư chất của Phật giáo đồ, mà còn giúp sự hoằng truyền Phật pháp, vì thế sự bồi dưỡng thanh niên rất là quan trọng.

[13]. Tức là đối với những tù nhân đang chịu thọ hình, trước thời gian phóng thích 3 tháng, thì dành cho họ sự giáo dục cảm hóa, phụ đạo tâm lý, nương vào ánh sáng từ bi, quan tâm mà giúp cho họ thanh tịnh được thân tâm, tư tưởng; giáo dục chỉ dẫn cho họ phương pháp làm người, bồi dưỡng kỹ năng mưu sanh, tăng trưởng đạo đức.

 

Ý KIẾN BẠN ĐỌC