NI TRƯỞNG HUỲNH LIÊN
  • Thích Nữ Huỳnh Liên
  • Thích Nữ Huỳnh Liên
  • Thích Nữ Huỳnh Liên

 

Nguyện xin hiến trọn đời mình

Cho nguồn Đạo pháp cho tình Quê hương

 

THẬP ĐẠI ĐỆ TỬ
  • Thích Nữ Bạch Liên
  • Thích Nữ Thanh Liên
  • Thích Nữ Kim Liên
  • Thích Nữ Ngân Liên
  • Thích Nữ Chơn Liên
  • Thích Nữ Quảng Liên
  • Thích Nữ Quảng Liên
  • Thích Nữ Tạng Liên
  • Thích Nữ Trí Liên
  • Thích Nữ Đức Liên
  • Thích Nữ Thiện Liên
THÔNG BÁO

Cáo phó Ni trưởng Nguyện Liên viên tịch

Do tuổi cao sức yếu, Ni trưởng đã thuận thế vô thường, thu thần viên tịch vào lúc 17h50, ngày 30 tháng 10 năm 2018, nhằm ngày 22 tháng 9 năm Mậu Tuất, tại Tịnh xá Nhật Huy, TX. Long Khánh, Đồng Nai

Tuyển sinh đại học chuyên ngành Hán Nôm hệ Vừa làm vừa học tại TP. HCM

Năm 2016, Trường Đại học Khoa học Xã hội & Nhân văn - Đại học Quốc gia TP. Hồ Chí Minh xét tuyển thẳng những thí sinh đã có bằng tốt nghiệp của các trường đại học thuộc hệ thống giáo dục quốc dân; những thí sinh tốt nghiệp THPT đạt từ 15 điểm trở lên không nhân hệ số trong kỳ thi THPT Quốc gia năm 2016 gồm các tổ hợp môn: Ngữ văn - Lịch sử - Địa lý, Ngữ văn - Lịch sử - Tiếng Anh, Ngữ văn - Toán - Tiếng Anh; đã tốt nghiệp THPT hoặc tương đương có điểm trung bình cộng 3 năm lớp 10, lớp 11, lớp 12, đạt từ 6.0 trở lên, theo nguyên tắc xét tuyển những thí sinh có điểm trung bình cộng từ cao xuống thấp cho đến khi đủ chỉ tiêu. Xem trang mạng: http://dt.hcmussh.edu.vn/

VIDEO HÔM NAY

Khi Con Vào Đời - Ni sư Thích Nữ Phụng Liên - Ni sư Phụng Liên

Pháp âm MP3

  • 0 - Lời Mở Đầu
  • 01 - Võ Trụ Quan
  • 02 - Ngũ Uẩn
  • 03 - Lục Căn
  • 04 - Thập Nhị Nhơn Duyên

LỊCH VIỆT NAM

THỐNG KÊ

 

Trang chủ > Phật Học > Luận Văn

Ngũ Giới Trong Cuộc Sống Đạo Đức Của Người Tại Gia

Tác giả: Bảo Minh Trang.  
Lượt xem: 1790 . Ngày đăng: 14/09/2016In ấn

 

Ngũ Giới Trong Cuộc Sống Đạo Đức Của Người Phật Tử Tại Gia

 

        I. Dẫn nhập

 “ Từ “ethics” trong tiếng Anh  (tiếng việt là “đạo đức học” hay “luân lý học” bắt nguồn từ tiếng Hi Lạp  “ethos” có nghĩa là “ phong tục” ở số ít, và “tính cách ở số nhiều (ethe)”. (2) Các  nghĩa gốc này cũng giúp cho chúng ta hiểu tại sao chúng ta gọi đạo  đức học là học về cách phải sống về đời mình như thế nào. Nó là môn học về cách cư xử và tính cách đúng đắn. Phật giáo - con đường chuyển hoá hệ lụy của cuộc đời, mãi mãi làm sống dậy các giềng mối đạo đức giữa con người với con người, giữa con người với xã hội và rộng hơn là giữa con người với môi sinh.[1] Ngũ giới của nhà Phật được coi là nguyên tắc cơ bản trong việc hình thành nền đạo đức xã hội, đào tạo ra những con người mẫu mực vừa lành mạnh về thể xác vừa trong sáng về tâm hồn, góp phần giữ gìn và cân bằng sinh thái. Đối với xã hội hiện đại hay đời xưa việc giữ gìn giới cấm  lúc nào cũng cần thiết. Vì giới đem lại an lạc cho xã hội, đem lại an lạc cho bản thân gia đình, những người Phật tử, xuất gia hay tại gia, tu tập điều thiện, chính là giữ giới. [2]  Quả thật, chỉ có Giới luật mới đưa con người lên Bi-Trí-Dũng để đạt đến Chân-Thiện-Mỹ, uốn nắn hàng con Phật trở thành mẩu người toàn diện trong quá trình tu tập. Phần dẫn nhập được trình bày 4 mục sau:

1. Lý do chọn đề tài

Đạo Phật có một sức sống dồi dào bất động, sức sống ấy là Chánh Pháp cũng chính là Giới. Giới là lộ trình sống thực của chân lý, được kết tinh từ nhân cách phẩm chất đạo đức, nhằm nuôi dưỡng lớn công hạnh tự lợi, lợi tha, một yếu tố tác thành Phật quả. Giới cũng chính là cơ năng nòng cốt để xây dựng trật tự kỷ cương, một con người toàn diện trong sáng, nâng cao trí thức, phát triển trí huệ. Thế nên, con xin chọn đề tài: “ Ngũ Giới trong cuộc sống đạo đức của người Phật tử tại gia”.

2. Phạm vi đề tài

Đề tài này được tóm tắt trong 5 Giới của Phật tử tài gia, sự lợi ích về Giới Luật của Phật chế ra thì rộng mênh mông, nhưng với tầm hiểu biết hạn hẹp của mình con xin trình bày những ý như sau:

- Giới luật là nền tảng đạo đức của nhân sinh.

- Tầm quan trọng của Giới luật.

- Sự lợi ích của Giới Luật

3. Cơ sở tài liệu

Để hoàn thành bài Tiểu Luận này  con dựa vào giáo lý của Đức Phật không ngoài Kinh- Luật- Luận, Kinh tạng Nykàya, một số Kinh Luật Đại Thừa. Cũng như các quyển Luật do các bậc Tôn túc biên soạn, các tài liệu giảng dạy của giảng sư. Cộng với sự góp nhặt kiển thức thiển cận của con trong suốt ba năm học để triển khai nội dung bài viết này.

4. Phương pháp nghiên cứu

Bài Luận văn được trình bày theo phương pháp luận giải thích, chứng minh cùng với phương pháp phân tích để làm sáng tỏ những tính chất đặc thù của đề tài được nghiên cứu. Quá trình này đòi hỏi người viết phải nghiên cứu Kinh – Luật – Luận để có những ý tưởng phong phú đặc sắc, và phải đi sát vấn đề cần làm.

Mặc dù dựa trên tư tưởng giáo lý của Phật giáo làm chuẩn, đồng thời cộng thêm những tác phẩm, các văn bản rất có giá trị. Dù cố gắng hết sức để trình bày nhưng cũng không khỏi sai lầm vì sự thô thiển yếu kém, kính mong thầy giáo thọ hoan hỷ chỉ dạy.

II. Ðịnh Nghĩa.

2.1.Giới là gì ?

“Thông thường Giới được hiểu là ngăn ngừa điều xấu,  dứt dừng điều ác (phòng phi chỉ ác) hoặc ngưng điều ác mà làm điều thiện ( chỉ ác tác thiện)”  (3)  “Giới tiếng Phạn là Sila, Trung hoa dịch âm Thi la, còn gọi la Ba la đề mộc xoa biệt biệt giải thoát”. (4) Giới luật của đạo Phật nhằm giúp cho con người một phương pháp không tạo nhân xấu, để bớt khổ được vui, lợi mình lợi người. Giới có 6 năng lực:[3]

. Chế ngự :Ngăn ngừa 3 nghiệp ( thân, khẩu, ý) không cho buông lung.

. Thanh lương : Vì ba nghiệp thanh tịnh cho nên không bị thiêu đốt bởi các dục sanh ra, làm cho tâm được mát mẻ nhẹ nhàng.

. Nghiệp : Ngăn ngừa những lỗi lầm ý xấu tác động để ác nghiệp đoạn trừ, làm cho thiện nghiệp phát triển. Ðức Phật dạy: " Như lai nói tác ý tức là nghiệp ".

. Luật nghi : Những quy định có tính xây dựng đạo đức con người và hoàn thiện nhân cách.

. Diệu hạnh : Những hành động xứng đáng được mọi người khen ngợi.

. Phòng hộ : Giữ gìn và bảo vệ còn gọi là: "Phòng phi chỉ ác "  (ngăn ngừa những điều xấu, chấm dứt những việc ác). Qua đó chúng ta thấy rằng năm giới của Phật dạy nhằm mục đích cho mình, vì hạnh phúc gia đình, đem lại hạnh phúc cho xã hội và tất cả chúng sanh, tạo cho xã hội  một cuộc sống thanh bình an lạc.

Giới là tu sửa thân tâm

Ngăn  trừ điều ác lỗi lầm tránh xa

Làm cho xã hội thái hòa

Thanh bình an lạc giữa ta và người.

2. 1.1. Giới và đạo đức của người con Phật[4]

Đạo đức của người con Phật được xây dựng và phát triển trên nền tảng của giới luật. Đối với một Phật tử tại gia nhất thiết phải nghiêm trì ngũ giới. “ Ngũ giới là cơ bản đạo đức của người Phật tử, khi bắt đầu bước chân trên con đường giác ngộ giải thoát. Thiếu căn bản đạo đức này, dù chúng ta có nói đạo đức cao siêu đến đâu cũng là lối nói rỗng. Sự tu hành thiết thực phải gầy dựng cơ bản trước, sau mới tiến lên những bậc cao siêu. Ðó là tầm quan trọng của ngũ giới”. (5)

Thật vậy năm giới Phật giáo là chuẩn mức đạo đức cho loài người nói chung, giá trị phổ biến của chúng, giá trị toàn cầu của chúng được các nhà đạo đức học, triết học, xã hội học trên thế giới công nhận. Ngoài ra Giới còn giúp cho người Phật tử đạt được mục tiêu cứu cánh rốt ráo an lạc. “Trong ba mươi bảy phẩm trợ đạo, Thế Tôn dạy rằng: Giới là nền tảng của bốn Niệm xứ, bốn Chánh cần, bốn Như ý túc, Năm Căn, Năm Lực, Bảy Bồ đề phần và tám Thánh đạo phần. Ví như đất là nền tảng, không có nó thì các loài động vật không thể di chuyển, cũng thế không có Giới thì ba mươi bảy phẩm trợ đạo không thể được tu tập viên mãn”” (6)[5]

“ Đừng làm các việc ác

Tu tập các hạnh lành

Giữ tâm ý trong sạch

Đó là lời  Phật dạy”. (7)

 

 

 2.1.2. Năm giới vào đời sống đạo đức xã hội

Ðạo Phật ra đời là vì con người hay nói cách khác đối tượng của Ðạo Phật là con người vì thế cho nên mục đích của đạo Phật :

- Ðem lại sự hiểu biết về giá trị của con người làm cho con người nhận ra được lẽ thực,không ỷ lại vào tha lực và nhận trách nhiệm về những gì mình làm “Ta là chủ nhân của nghiệp, là kẻ thừa tự của nghiệp, nghiệp là thai tạng, nghiệp là quyến thuộc, nghiệp là điểm tựa. Phàm nghiệp nào sẽ làm, thiện hay ác, ta sẽ thừa tự nghiệp ấy”  (8)

- Hướng dẫn con người cải tạo đời sống bằng những phương pháp, ngăn ngừa dục vọng và làm cho thân tâm thanh tịnh ngõ hầu đem lại một kết quả sống an lạc và hạnh phúc. Chỉ cho con người thấy giá trị của sự tự do chân thật cho mình và mọi người chung quanh với tâm an lạc, bình đẳng, có đời sống đạo đức trong cộng đồng xã hội.

Làm cho cuộc sống đẹp tươi

Truyền ban Giới pháp giúp người lạc an

Nghiệp kia, ta chính chủ nhân

Việc làm cẩn trọng chuyên cần trau tâm.

2.2. Ngũ Giới

“ Ngũ Giới là giới điều căn bản nhất trong Phật giáo, cũng là căn bản của tất cả Phật Giới cho nên gọi ngũ  Giới là căn bản giới” (9)[6]

Ðức Phật dạy người Phật tử phải tránh những điều dữ và làm các việc lành. Việc làm lành lánh dữ trong Phật giáo thể hiện qua lòng từ bi, để đem lại hạnh phúc cho cá nhân và xã hội dựa trên tinh thần thương yêu và hiểu biết. Người giữ được năm giới thì không bị bị khổ đau. Giới không phải là người trên, cấm kẻ dưới không được làm, nếu làm thì bị trừng phạt, mà Giới là điều mình tự nguyện làm, vì các điều ấy phù hợp với đạo lý và khi thực hành chúng ta có được sự an vui về tinh thần và thể chất. Trong Kinh Trường Bộ, Đức Phật đặc biệt đề cao Giới Đức: “Chỗ nào có Giới hạnh chỗ ấy có trí tuệ, chỗ nào có trí huệ, chỗ ấy có Giới hạnh. Người có Giới hạnh nhất định có trí tuệ, người có trí tuệ nhất định có Giới hạnh. Giới hạnh và trí huệ phải được xem là tối thắng ở trên đời” (10) [7]Như thế ta có thể khẳng định là: Nơi nào có người giữ Giới thì nơi đó sẽ có mọi sự hạnh phúc an lành.

Ngũ Giới huyền diệu thậm thâm

Làm lành lánh  dữ  pháp âm Phật truyền

Hạnh từ lợi  lạc  nhân thiên

Người có Giới – Đức, Tuệ liền phát sanh.

2.2. 1 . Giới thứ nhất :  Không được giết hại (không sát sanh)

Giết hại con người là yếu tố chính mà Phật cấm người Phật tử không được sát sanh, ngoài ra Ðức Phật khuyên người Phật tử phải biết hạn chế giết hại các sinh vật khác với tình thương yêu hướng đến bảo vệ sự sống của muôn loài:

“Ai cũng run sợ trước gậy gộc. Tất cả đều sợ chết.

Hãy lấy ta suy ra người. Không nên giết cũng không xúi giết”  (11)[8]

Khi Phật tử có lòng yêu thương sanh mạng của chúng sanh như thế, thì tâm hồn bác ái tự nhiên mở rộng. Đến loài sanh vật nhỏ xíu còn mở rộng lòng thương huống hồ là mạng sống con người. Từ nơi giới cấm sát đã tạo cho xã hội  những con người từ ái biết trải lòng thương đến muôn loài vạn vật biết tìm hiểu chia xẻ những đau thương khó khăn của các dân tộc trong xã hội, các nước lân cận, các sinh vật sống chung quanh. Nếu mọi người đều hành trì theo giới cấm sát này thì nhà tù sẽ trống chỗ rất nhiều, con người sẽ

biết yêu thương tôn trọng nhau hơn,  những cơn nóng giận thù hằn dẫn đến đâm chém giết chóc sẽ giảm đi rất nhiều. Lợi ích của giữ giới sát thật vô cùng to lớn, như trong Kinh Tiểu Nghiệp Phân Biệt, Đức Phật dạy rằng: “ Những người chết yểu là do nghiệp sát sanh, tàn nhẫn, tay lấm máu, khi thân hoại mạng chung nó sinh vào cõi dữ, đọa xứ nếu làm người thì chết yểu. Con đường đưa đến đoản mạng là sát sanh tàn nhẫn. Còn người sống lâu là do từ bỏ sát sanh, có lòng từ. Khi thân hoại mạng chung, người này được sanh thiện thú, thiên giới, hoặc làm người thì sống lâu. Con đường đưa đến trường thọ là từ bỏ sát sanh, thương xót loài hữu tình”. (12)  Qua lời Kinh dạy trên ta có thể nhận thấy sự lợi ích to lớn từ giới cấm sát sanh.

Giới đầu cấm bỏ sát sanh

Thương yêu muôn loại như thân của mình

Trường thọ, mệnh yểu linh đinh

Đều do nghiệp quả tự mình tạo vay.

2.2. 2 . Giới thứ hai : Không được trộm cướp .

“Hợp từ adinna + adana bao gồm sự hối lộ, ăn trộm, ăn cướp, xâm chiếm đất đai, cưỡng đoạt nhà cừa,  lừa đảo, hoặc bất cứ mánh khóe nào để có tiền, của cải hay lợi lộc” [9] (13)

Không trộm cướp có nghĩa là không dùng thủ đoạn chiếm đoạt tài sản của cải người khác. Tài sản của mình, chúng ta không muốn ai xâm chiếm thì đối với người cũng thế, không được chiếm đoạt hay lén lấy của người, làm điều đó tức là chúng ta đi trái lại tinh thần nhân bản của đạo Phật . Với tâm niệm người Phật tử phải đem công sức làm ra của cải vật chất, góp phần phát triển xã hội, thương yêu cuộc đời, tôn trọng sinh mạng và tài sản của mọi người nên không bao giờ trộm cướp, người Phật tử không được chỉ nghĩ về mình mà quên đi nỗi khổ của kẻ khác.

Không tham lam tài sản này

Lại không tâm niệm  chiếm tài sản kia

Đem công  sức của  làm ra

Góp phần phát triển nhà nhà vui an.

2.2.3 . Giới thứ ba : Không được tà dâm.

Lời dạy của Đức Phật đối với hàng Phật tử tại gia là tránh sự tà dâm “(kàmesu micchàcàra veramani) Kamesu có nghĩa “ bất cứ hình thức thỏa mãn nhục dục nào” Micchàcàra là một từ ghép có nghĩa là “hành vi bất hảo””. (14) Theo nghĩa thường dùng thì (kàmesu micchàcàra) “hành dâm dục sái quấy (tà dâm)”. (15)  Lời khuyên  này nhằm hướng dẫn con người thỏa mãn sắc dục như thế nào để điều đó không trở thành là một vấn đề cho họ và những người xung quanh.

Người Phật tử xây dựng đời sống hạnh phúc gia đình, đồng thời cũng tôn trọng hạnh phúc của người khác. Do đó, khi đã là vợ chồng với nhau người Phật tử không được phá hoại hạnh phúc gia đình người khác. Sự thủy chung là nhân tố góp phần làm cho đời sống tại gia yên vui hòa thuận . Cho nên người Phật tử không vì nhu cầu tình dục mà xâm phạm làm đổ vỡ gia đình người khác. Cổ nhân có dạy: " “Những gì mình không muốn, đừng trao cho người" . (16)  Đức Phật còn định nghĩa rằng: “Đời sống phạm hạnh là sự tu tập của Bát Chánh Đạo”. (17)[10]

Trong Kinh Pháp Cú, Đức Phật có dạy rằng: “ Bốn điều bất hạnh đến với người bất cẩn, có hành động tà dâm: “Gặt hái tội khổ, ngũ không yên giấc, ba là bị khiển trách, và bốn là ở nơi khổ cảnh.” (18) Vì thế người Phật tử cần nên gìn giữ Giới này là bước trau dồi phạm hạnh tu tập của Bát Chánh Đạo.

Tà dâm tội nặng vô vàn

Hành vi bất hảo phá tan gia đình

Hại người khác, hại  nhà mình

Những gì không muốn đừng rinh đem về.

2.2. 4 . Giới thứ tư :  Không được nói dối.

“ Nếu một người làm hại  đến quyền lợi của tôi bằng lời gian dối, thì hành động đó thật là đáng ghét. Nếu tôi  cũng hành động như vậy, thì hành động của tôi  cũng đáng ghét đối với người khác… Người quán chiếu như vậy cần tránh lời gian dối (musavada).”  (19)

Nói dối là nói không chân thật để mưu cầu lợi cho mình có 4 (cách ) gọi là nói dối:[11]

-Nói không thật ( vọng ngôn) : Không thấy nói thấy, thấy nói không thấy, nghe nói không nghe, không nghe nói nghe, làm nói không làm, không làm nói làm.[12]

- Nói thêu dệt (ỷ ngữ) :

- Nói lưỡi đôi chiều (lưỡng thiệt) : Nói đâm thọc hai đầu còn gọi là : " đến người nầy nói chuyện người kia,đến người kia chuyện người nầy .

- Nói ác (ác khẩu) : Chửi rủa, nhục mạ .

“Vết dao đâm  có thể lành thương tích

Lời nói đâm  nhau, hận  một đời”.(20)

Trong đạo Phật, đạo đức của ngôn ngữ thể hiện ở sự  ái ngữ. Tu theo Phật chúng ta phải dùng lời nói  khả ái dễ  nghe, biểu hiện thái  độ nhã nhặn và lịch sự từ lời nói đến việc làm , không điêu ngoa xảo trá, không được tâm nghĩ miệng nói trái nhau , gian lận trắng đen làm mất tình người.

Lời gian, tiếng dối khó nghe

Lưỡng ngôn, ác ngữ phân chia hai đường

Học theo Giới Phật đo lường

Thốt lời chân thật dễ thương dịu dàng.

2.2. 5 . Giới thứ năm : Không được uống rượu ( không dùng những chất độc hại).

“Cụm từ Pali để chỉ cho Giới thứ năm này là suramerayamaj-japamadatthana veramani. Kiêng khem ý nghĩa của từ veramani, sura, meraya, và majja là chỉ ba loại rượu mà người ta sử dụng thời Đức Phật. Pamada một từ chuyên môn trong Pali mang ý nghĩa “ không chú ý” “ lơ đễnh” hoặc “trì hoãn” nhắm chỉ sự bất lực trong hành động. Thana có rất nhiều nghĩa nhưng dùng để chỉ Giới luật này, nó có nghĩa là “có thể xảy ra”. Như thế, nói chung, Giới này có nghĩa là “tránh xa các chất say có thể khiến tâm mê muội và thân điên đảo”. (21) [13]

Người Phật tử không nên uống rượu, hút cần sa, ma túy cùng những thứ độc hại khác làm cho cơ thể suy yếu mất hết sáng suốt . Bởi vì đạo Phật chủ trương giác ngộ, tỉnh thức trong đời sống, uống rượu hay những chất độc có hại, khiến tâm trí chúng ta sẽ bị quay cuồng không tỉnh táo, hạt giống trí tuệ sẽ không phát triển. Ngoài rượu ra, Phật tử không được dùng các thực phẩm có chất kích thích, không xem phim ảnh sách báo đồi trụy mang tính độc hại về tinh thần . Ðể trở thành một Phật tử đầy đủ nhân cách đạo đức, chúng ta phải ý thức tránh xa những loại làm tác hại cho tinh thần và thể chất.

Trong năm Giới thì bốn Giới trên thuộc về tánh Giới là những giới cấm người Phật tử cần phải xa lánh vì nó là hành động tạo nhân ác, còn Giới thứ năm thuộc về tướng Giới là Giới mà Phật gọi là vật cấm. Người Phật tử ngày nay phải coi đó là yếu tố làm cho thân tâm bại danh liệt .

Chất say điên đảo mơ màng

Các chất nghiện khác làm tan cửa nhà

Thân tâm bại liệt sa đà

 Cần nên ý thức tránh xa chớ gần.

2.3. Lợi ích của năm Giới:

Phật tử tại gia có thể nhận năm giới hoặc tuỳ theo hoàn cảnh từ một, hai, ba... giới một cách tự nguyện mà không có sự ép buộc nào. Giữ  giới có những lợi ích như sau

 - Nếu người Phật tử không giết hại, thì đời sau cũng không bị người giết, lòng thanh thản nhẹ nhàng không lo âu sợ hãi do thù hận tạo nên. Một trong những điều kiện sống an lành là không có kẻ thù nghịch.

- Giữ giới không trộm cướp bản thân ta không bị tù tội, đến đâu làm việc gì cũng được mọi người qúi mến tin cậy, không sợ ai theo dõi, không lo âu sợ hãi thì cuộc sống mới vui tươi.

- Giữ giới không tà dâm mỗi người chúng ta không lo âu sầu muộn khi vợ, chồng không thuỷ chung, không đứng núi nầy trông núi nọ, chung lo xây dựng gia đình thì đó chính là một gia đình hạnh phúc đầm ấm.

- Giữ giới không nói dối là nhằm giúp cho ta rèn luyện đức tính chân thật ở đâu cũng được tín nhiệm, không bị người khác nghi ngờ. Sự thành công trên đường mưu sinh lập nghiệp ai cũng muốn được tín nhiệm, đây là yếu tố thành công trên đường đời.

- Giữ giới không uống rượu và các chất gây nghiện khác là giữ gìn phẩm giá của chính bản thân mình và đem lại hạnh phúc cho gia đình, đồng thời rượu là yếu tố theo y học nó là nhân sanh ra các bệnh tim mạch, gan mạch máu không co giản được, dễ bị chứng lưu huyết, thần kinh ở nảo cũng bị ảnh hưởng làm giảm trí nhớ.

Lợi ích Giới với bản thân

Không Sát- Dâm - Đạo tâm thân nhẹ nhàng

Không Vọng Ngữ lời đoan trang

Không Nghiện các thứ bình an cuộc đời.

2.3.1. Ðối với gia đình và xã hội:

Nếu con người biết ứng dụng tinh thần năm giới là tự xây dựng một gia đình hạnh phúc một xã hội công bằng văn minh và bình đẳng. Ðức Phật nhắm vào con người, đem lại cho con người một an lạc, gia đình hạnh phúc, xã hội bình đẳng có tình yêu thương và hiểu biết. Chính năm giới là nhân tố tạo nền tảng của đạo đức, xây dựng cho tế bào đạo đức xã hội thêm tốt đẹp bất cứ thời đại nào.

Ngũ Giới đem lại cho người

Xã hội hạnh phúc sáng tươi thanh bình

Ấm êm hạnh phúc gia đình

Thảnh thơi an lạc văn minh công bằng.

2.3.2. Ngũ giới đi chung với Thập thiện

Ngũ giới của Phật giáo là “đạo đức căn bản” làm người, nên phải tuân thủ giữ gìn; Thập thiện là “đạo đức tăng thượng” tịnh hóa nội tâm, thăng hoa nhân cách; nhân quả nghiệp báo là “đạo đức thiện ác” bất biến của thế gian.

Trong Kinh “Chuyển Luân Thánh Vương Tu Hành” có đoạn dẫn chứng lời Phật giảng cho các Tỳ Kheo: “Các ông  phải siêng năng  tu các điều thiện, nhờ  tu điều thiện mà mạng sống lâu dài,  nhan sắc thắm tươi, và được an ổn khoái  lạc, của báu  dồi dào,  uy lực đầy đủ”  (22)[14]Phật giáo lấy Ngũ giới, Thập thiện xem là chuẩn mực đạo đức nhân bản, khởi xướng “chớ làm các việc xấu, hãy làm những việc tốt”, không xâm phạm thân thể, tiền của, danh dự, tôn nghiêm của người khác, sửa đổi triệt để lòng người, khiến nhân luân cương thường có trật tự, làm cho nếp sống xã hội trở nên lương thiện. Ngũ giới, Thập thiện chính là chuẩn mực đạo đức của Phật giáo.

“Các hành vi (thân, khẩu, ý)  xác định  nhân cách một người[15]

Trí  huệ soi sáng nhân cách của người ấy”. (23 )

Ngũ Giới đầy đủ công năng

Đi chung Thập Thiện muôn phần diệu an

Dồi dào của báu vô vàn

Sống lâu không bệnh dung nhan rạng ngời.

III. Kết Luận

“ Đạo đức Phật giáo là một nếp sống đưa đến hạnh phúc và an lạc trong đời này và cho đời sau”. (24)   nương tựa Tam Bảo và giữ gìn ngũ giới là nền tảng của người Phật tử tại gia mới bước chân vào đạo, đây là nấc thang đầu tiên nhưng vô cùng quan trọng, xác định một phương hướng và phương pháp tu tập rèn luyện nhân cách trao dồi tình thương yêu và sự hiểu biết, làm cho phẩm hạnh đạo đức của con người càng được nâng cao. Giới có công năng  rõ ràng đem lại sự hạnh phúc lâu dài cho mình cho người và cho cả xã hội bình an và hạnh phúc ngay cả trong hiện tại và tương lai. 

Nếu muốn xã hội được tiến triển trên đà hạnh phúc và đạo đức, thì Giới đúng là mục tiêu để mà nhân loại cần nắm giữ để được đi trên con đường hạnh phúc ấy. Con đường không chỉ mang lại hạnh phúc ngay trong hiện tại mà cả trong các đời vị lai. Con đường hạt giống nhân thiên. Con đường nuôi dưỡng hạt giống Bồ đề hôm nay và mai sau[16] Giới còn là phương tiện dẫn dắt con người vượt khỏi sông mê, bể khổ, luân hồi, tới chốn an lạc, giải thoát. Không chỉ vậy, Giới còn là điều kiện tối quan trọng trong việc tu tập thiền định. Do vậy,giữ Giới cũng đồng nghĩa với việc con người tự rèn luyện, trau dồi đạo đức. Nghiên cứu Ngũ Giới, chúng ta thấy đấy là những nguyên tắc đạo đức cơ bản mà Phật đặt ra cho các Phật tử thực hành. Ngũ Giới còn góp phần hướng tới con người đi dến sự hoàn thiện trong tư tưởng, hành vi, bồi dưỡng nhân cách theo nhân sinh quan Phật giáo. Có thể thấy,những nội dung mà Ngũ Giới đề cập đến không chỉ có ý nghĩa nuôi dưỡng lòng từ bi, nhân đạo ở mỗi cá nhân mà còn hướng tới việc xây dựng một xã hội đạo đức, ổn định. “Hành động xấu ngọt ngào như mật. Kẻ điên cuồng nghĩ vậy khi quả dữ chưa trổ. Nhưng lúc  trổ quả họ  sẽ đau khổ.” (25)   [17]Khi ý thức rõ ràng về luật nhân quả, hành động giữ Giới sẽ góp phần nâng cao trách nhiệm của mỗi cá nhân tồn tại trong xã hội. Giáo lý Phật giáo có tác dụng điều chỉnh ý thức và hành vi đạo đức cho con người,nâng đỡ, khơi dậy tình thương yêu, đức vị tha, làm điều thiện, trách điều ác. Không chỉ áp dụng trong giới Phật tử mà những nội dung mang tính đạo đức của Phật giáo còn có ảnh hưởng mạnh mẽ đối với xã hội. Luật nhân quả nhấn mạnh vào trách nhiệm của từng cá nhân đối với các hành vi đạo đức,con người vì sợ quả báo, sợ bị đày xuống địa ngục nên họ cố gắng làm thiện, tránh ác, tu nhân tích đức. Điều này góp phần hoàn thiện đạo đức cho từng cá nhân cũng như có lợi cho việc xây dựng một nền đạo đức tốt đẹp trong xã hội, đưa con người và xã hội từng bước đến dần Chân –Thiện – Mỹ.

Qua ngũ Giới của Phật giáo thể hiện một triết lý về sự công bằng, giáo dục con người phải biết sống lành mạnh,khuyến khích con  người làm nhiều việc tốt, việc thiện,lánh xa điều ác,tránh làm những việc bất nhân phi nghĩa để xây dựng một cuộc sống tốt đẹp nơi trần thế. Chính những giá trị đạo đức trên đây mà Phật giáo ngày càng có vị trí vững chắc trong tâm thức mỗi người dân Việt Nam, khẳng định sức sống lâu bền của Giới Luật Phật với tất cả mọi  người  con Phật trên toàn thế giới. 

 (26)

TÀI LIỆU THAM KHẢO

 

  1. Tỳ Kheo, TS. Basnagoda Rahula, Lời Dạy Của Đức Phật,  Nxb Tôn Giáo, 2010
  2. HT. Thích Minh Châu, Tăng Chi Bộ Kinh  III: Phẩm Bala: Kinh Lakkhana
  3. HT. Thánh Nghiêm- Thích Nữ Tuệ Đăng dịch, Cương Yếu Giới Luật. tr. 6, Nxb Phương Đông , 2007
  4. HT. Thích Thanh Từ, Bước Đầu Học Phật, Phẩm Giới, Hội Thiền Học Việt Nam, PL. 2548- DL. 2004
  5. HT Thích Minh Châu, Tóm Tắt Kinh Trung Bộ, NXB Văn Hóa Sài Gòn, PL: 2554 DL: 2010
  6. Tịnh Minh dịch, Thi Kệ Pháp Cú Kinh, NXB Phương Đông, 2010
  7. Thích Chơn Thiện, Phật Học Khái Luận, NXB Phương Đông 2009
  8. HT. Thích Minh Châu, Kinh Tăng Chi II, Nxb Tôn Giáo 1988
  9. HT. Thích Minh Châu dịch, Kinh Trường Bộ, Phẩm Sonadanda, Nxb Tôn Giáo Hà Nội, PL. 2535)
  10.  HT. Thích Minh Châu, Đạo Đức Phật giáo, bài thuyết giảng nhân ngày Phật Đản 2535, tr. 3
  11. Nhiều tác giả, Đạo Đức Học Phật Giáo, Viện Nghiên Cứu Phật Học Việt Nam ấn hành 1995
  12. Thích Chân Quang, Tâm Lý Đạo Đức, Nxb Tôn giáo-2009
  13. Thích Chân Quang, Chân dung người Phật tử, Nxb Tôn Giáo 1999
  14. HT. Thích Minh Châu dịch việt, Kinh Trung Bộ, Quyển hai, Đại Tạng Kinh Việt Nam, Nxb Tôn Giáo-2012
  15. Tỳ Kheo Chánh Minh, Luận Giải Kinh Chánh Tri Kiến, Nxb Tôn Giáo – năm 2006
  16. Thích Thiện Hoa, Phật Học Phổ Thông, Thành Hội PG. TP. HCM ấn hành -10992
  17.  HT. Thích Hoàn Quang, Kinh Di Giáo, Nxb TP. HCM -1995
  18. Lưu Văn Hy biên dịch, Nhập Môn Triết Học Phương Tây, tr, 277, Nxb Tổng Hợp TP. HCM -2004

 

 

 

(1) HT. Thánh Nghiêm- Thích Nữ Tuệ Đăng dịch, Cương Yếu Giới Luật. tr. 6, Nxb Phương Đông , 2007

(2)Lưu Văn Hy biên dịch, Nhập Môn Triết Học Phương Tây, tr, 277, Nxb Tổng Hợp TP. HCM -2004

 

 

(3)HT. Thánh Nghiêm- Thích Nữ Tuệ Đăng dịch, Cương Yếu Giới Luật. tr. 6, Nxb Phương Đông , 2007

(4)“Từ điển của RhysDavids cắt nghĩa Giới (Silà) có gốc từ ngữ căn Sìl. Ngữ căn  Sìl có hai nghĩa: Upadhàranà (luân lý và đạo  đức của Phật giáo, cách  cư xử, tư cách đạo đức)”

(5) HT. Thích Thanh Từ, Bước Đầu Học Phật, Phẩm Giới, Hội Thiền Học VN, PL. 2548-DL. 2004

 

        (6)Thích Chơn Thiện, Phật Học Khái Luận,  tr. 331, Nxb Phương Đông 2009

(7)Tịnh Minh dịch, Thi Kệ Pháp Cú Kinh, tr. 193, câu 183,  Nxb Phương Đông, 2010

 

 

 

 

 

(8).   HT. Thích Minh Châu, Kinh Tăng Chi II, Tr. 77, Nxb Tôn Giáo 1988

(9) HT. Thánh Nghiêm- Thích Nữ Tuệ Đăng dịch, Cương Yếu Giới Luật. tr. 6, Nxb Phương Đông , 2007

 

 

[7] (10)  HT. Thích Minh Châu dịch,  Kinh Trường Bộ, Phẩm Sonadanda, tr, 222, Nxb Tôn    Giáo Hà Nội, PL. 2535-1991

 

 

[8] (11) Phạm Kim Khánh (d), Dhp, câu 129

   (12) ) HT Thích Minh Châu, Tóm Tắt Kinh Trung Bộ, Phẩm Tiểu Kinh Phân Biệt Nghiệp, tr. 367, NXB Văn Hóa Sài Gòn, PL: 2554 DL: 2010

(13) Tỳ Kheo, TS. Basnagoda Rahula, Lời Dạy Của Đức Phật, tr.255, Nxb Tôn Giáo, 2010

 

 

(14) Tỳ Kheo, TS. Basnagoda Rahula, Lời Dạy Của Đức Phật, tr.256, Nxb Tôn Giáo, 2010

(15)Tỳ Kheo Chánh Minh biên soạn, Luận giải Kinh Chánh Tri Kiến, tr, 116,  Nxb Tôn Giáo- 2006

(16) (“kỷ sở bất dục vật thí ư nhân” .己所不欲勿施於人  (Khổng Tử)

(17)Tỳ Kheo Chánh Minh biên soạn, Luận giải Kinh Chánh Tri Kiến, tr, 118,  Nxb Tôn Giáo- 2006

 (18) S Đ D, (17)

 

 

 

  1.  HT. Thích Minh Châu dịch , Tương Ưng Bộ Kinh V: Sotapatti: Samyutta: Kinh Veludvareyya, 1796- 1799
  2. Thích Chân Quang, Tâm Lý Đạo Đức, Quyển 2, tr, 282, Nxb Tôn Giáo 2009

 

 

 

 

 

 (21) Tỳ Kheo, TS. Basnagoda Rahula, Lời Dạy Của Đức Phật, tr.268, Nxb Tôn Giáo, 2010

 

(22) Dịch: Phật Ðà Da Xá & Trúc Phật Niệm, Việt dịch: Thích Tuệ Sỹ, Trường A Hàm, Phẩm Chuyển Luân Thánh Vương Tu Hành

(23) HT. Thích Minh Châu dịch việt, Tăng Chi Bộ Kinh  III: Phẩm Bala: Kinh Lakkhana

 

 

 

 

(24) HT. Thích Minh Châu, Đạo Đức Phật giáo, bài thuyết giảng nhân ngày Phật Đản 2535, tr. 3

 

[17] (25) Phạm Kim Khánh, (d) (1971) Kinh Pháp Cú (dhp câu 169) tr, 83

 

(26) Tất cả bài thơ không đề tên tác giả là của con (người viết Ngọc Châu)

Ý KIẾN BẠN ĐỌC