NI TRƯỞNG HUỲNH LIÊN
  • Thích Nữ Huỳnh Liên
  • Thích Nữ Huỳnh Liên
  • Thích Nữ Huỳnh Liên

 

Nguyện xin hiến trọn đời mình

Cho nguồn Đạo pháp cho tình Quê hương

 

THẬP ĐẠI ĐỆ TỬ
  • Thích Nữ Bạch Liên
  • Thích Nữ Thanh Liên
  • Thích Nữ Kim Liên
  • Thích Nữ Ngân Liên
  • Thích Nữ Chơn Liên
  • Thích Nữ Quảng Liên
  • Thích Nữ Quảng Liên
  • Thích Nữ Tạng Liên
  • Thích Nữ Trí Liên
  • Thích Nữ Đức Liên
  • Thích Nữ Thiện Liên
THÔNG BÁO

Tuyển sinh đại học chuyên ngành Hán Nôm hệ Vừa làm vừa học tại TP. HCM

Năm 2016, Trường Đại học Khoa học Xã hội & Nhân văn - Đại học Quốc gia TP. Hồ Chí Minh xét tuyển thẳng những thí sinh đã có bằng tốt nghiệp của các trường đại học thuộc hệ thống giáo dục quốc dân; những thí sinh tốt nghiệp THPT đạt từ 15 điểm trở lên không nhân hệ số trong kỳ thi THPT Quốc gia năm 2016 gồm các tổ hợp môn: Ngữ văn - Lịch sử - Địa lý, Ngữ văn - Lịch sử - Tiếng Anh, Ngữ văn - Toán - Tiếng Anh; đã tốt nghiệp THPT hoặc tương đương có điểm trung bình cộng 3 năm lớp 10, lớp 11, lớp 12, đạt từ 6.0 trở lên, theo nguyên tắc xét tuyển những thí sinh có điểm trung bình cộng từ cao xuống thấp cho đến khi đủ chỉ tiêu. Xem trang mạng: http://dt.hcmussh.edu.vn/

VIDEO HÔM NAY

KTPT87 | Niệm Phật Tu Hiền | HT. Thích Giác Toàn - Hòa thượng Giác Toàn

Pháp âm MP3

  • 0 - Lời Mở Đầu
  • 01 - Võ Trụ Quan
  • 02 - Ngũ Uẩn
  • 03 - Lục Căn
  • 04 - Thập Nhị Nhơn Duyên

LỊCH VIỆT NAM

THỐNG KÊ

 

Trang chủ > Đức Phật

Thái tử Tu Đại Noa

Tác giả: Tuệ Liên và Hảo Liên dịch.  
Lượt xem: 4280 . Ngày đăng: 25/07/2014In ấn

Thái tử Tu Đại Noa

Tuệ Liên và Hảo Liên Việt dịch

 

Trí tuệ Phật giáo, Nhiệm Quảng Di biên soạn

Thưở xưa ở nước Diệt Ba, vua Thấp Ba trị vì đất nước rất khoan hoà, từ ái, yêu dân như con, dưới quyền ngài có 4000 quan lại chủ quản 60 nước nhỏ, 800 thành trấn. Vua không có con, nên rất buồn về chuyện này. Ngài đi khắp nơi tế thần, tế sông cầu xin có đứa con trai. Sau đó hoàng hậu mang thai, nhà vua vô cùng vui sướng, tự chăm sóc đồ ăn thức uống, y phục, dụng cụ mà hoàng hậu cần dùng. 10 tháng hoài thai đã mãn, hoàng hậu sanh một thái tử, toàn quốc trên dưới đồng thanh chúc tụng. Nhà vua đặt tên cho thái tử là Tu Đại Noa.

Thời gian thấm thoát thoi đưa, mới đó mà thái tử đã được 16 tuổi, thư pháp, toán thuật, bắn tên, cỡi ngựa, và nghi lễ, các thứ tri thức và kỹ thuật đều tinh thông. Thái tử rất cung kính hiếu thuận, được cha mẹ thương yêu. Vua cha xây dựng cho chàng một toà cung điện nguy nga tráng lệ. Đến ngày thành gia lập thất, vua Thấp Ba cưới cho con một người vợ tên là Man Đề, dung mạo diễm lệ trên đời không hai, trên mình trang sức, các thứ lưu ly trân bảo xinh đẹp, người vợ lại sanh hai đứa con xinh đẹp dễ thương, một trai, một gái, cả gia đình sống cuộc đời hạnh phúc.

Thái tử Tu Đại Noa vốn bản tính nhân từ, ưa thích bố thí, thường nguyện cho tất cả nhân dân trong thiên hạ đến cả các loài chim bay thú chạy đều được an lạc hạnh phúc. Một ngày nọ thái tử ra thành vui chơi. Vua trời Đế Thích biết được bèn đem một đoàn chư thiên biến thành những người nghèo, ăn mày rách rưới, câm điếc, mù loà, … đợi bên vệ đường. Thái tử đi ngang qua, thấy nhiều người đáng thương như vậy vô cùng buồn bã, không còn hứng thú vui chơi nữa, bèn quay đầu đánh xe trở về hoàng cung.

Vua Thấp Ba nhìn thấy con vui vẻ ra đi, buồn bã trở về, cảm thấy ngạc nhiên bèn hỏi :

- Con à! Hôm nay rời khỏi hoàng cung ngao du ngắm cảnh, gặp phải việc gì mà không vui như vậy ?

Thái tử trả lời :

- Con nhìn thấy bên đường có rất nhiều người ăn xin, lại có nhiều kẻ đui mù, câm điếc. Thấy họ khổ như vậy con không vui. Muôn tâu phụ vương, con có một lời thỉnh cầu, không biết phụ vương có đáp ứng không ?

Vua Thấp Ba nói :

- Này con yêu của cha, bất luận con có yêu cầu gì cha đều đồng ý, con nói đi, con muốn yêu cầu điều gì?

Tu Đại Noa nói :

- Con muốn đem tất cả vàng ngọc châu báu được cất giữ trong kho vua bố thí. Những người nghèo khổ muốn gì được cái nấy, cho mỗi người đều được ấm no hạnh phúc.

Vua Thấp Ba cúi đầu do dự, nhưng nghĩ lại, mình đã hứa thoả mãn lời yêu cầu của con nên không tiện cự tuyệt bèn nói rằng :

- Được, con muốn làm gì thì làm

Thế là, thái tử bèn ra lệnh thủ hạ thắng xe ngựa đến kho vua, dọn hết tất cả tài vật, châu bảo, chở ra ngoài 4 cửa thành và trung tâm thành phố, ai muốn thứ gì thì lấy thứ nấy. Nhân dân khắp nơi nghe tin thái tử Tu Đại Noa bố thí vô cùng vui mừng, đổ xô kéo đến, phàm làm người không có đồ ăn thì lãnh lương thực, người không có y phục thì lãnh áo quần vải vóc, người muốn vàng bạc châu báu thì được vàng bạc châu báu. Thái tử Tu Đại Noa cố gắng đáp ứng yêu cầu của mỗi người, không để ai thất vọng. Tin này một truyền mười, mười truyền trăm, người đến xin càng ngày càng nhiều, thậm chí có người xa xôi từ ngàn dặm cũng đến nhận của bố thí.

Nước Diệp Ba có một kẻ thù là quốc vương nước lân cận. Ông vua này thường tìm cách chinh phục nước Diệp Ba. Tin thái tử Tu Đại Noa bố thí truyền đến nước lân bang. Nhà vua triệu tập các quan đại thần và Bà la môn lại nói :

- Vua nước Diệp Ba có nuôi một con voi trấn quốc tên là Tu Đàn Diên, trời sanh dũng mãnh, hùng lực lại thiện chiến. Nước Diệp Ba đánh trận đều nhờ nó mà chiến thắng các nước. Con voi này là đại chướng ngại trong việc chúng ta chinh phục nước Diệp Ba. Nay thái tử Tu Đại Noa đang hành đại bố thí, ai có yêu cầu gì thái tử đều đáp ứng. Các ngươi ai có thể nghĩ cách xin con voi kia ?

Các quan đại thần đều nói, việc này quá khó e rằng không làm được.

Lúc đó có 8 vị Bà la môn đến trước quốc vương nói :

- Xin đại vương hãy chuẩn bị lộ phí và lương khô cho chúng tôi, chúng tôi sẽ đem voi lớn kia về cho đại vương

Nhà vua mừng rỡ nói :

- Nếu các ngươi có thể đem voi lớn về cho ta, ta sẽ trọng thưởng.

Lập tức chuẩn bị lộ phí lương thực cho 8 vị này.

Thế là họ tay cầm gậy, trèo non lội suối đến nước Diệp Ba, đến trước cửa cung điện thái tử, thân dựa vào cây gậy, giơ lên một chân, chỉ đứng trên một chân, cứ đứng đó không nói tiếng nào. Người giữ cửa vội hỏi :

- Các vị đại sư đến đây có việc gì?

Các vị trả lời :

- Chúng tôi từ xa đến đây muốn xin thái tử Tu Đại Noa một món đồ.

Người giữ cửa lập tức bẩm báo thái tử. Thái tử nghe nói có 8 vị Bà la môn từ xa đến đây, vô cùng vui mừng, lập tức ra khỏi cửa cung điện, cung kính hỏi thăm :

- Các vị đại sư từ xa đến đây, đường sá xa xôi cực khổ, không biết các vị đại sư từ đâu đến, muốn món gì ? các ngài tại sao chỉ đứng trên một chân?

8 vị Bà la môn trả lời :

- Chúng tôi nghe nói thái tử thích làm việc thiện, hoan hỉ bố thí, bất luận ai muốn gì đều cố gắng thoả mãn. Đại đanh đã truyền khắp 4 phương, thậm chí cung trời, địa ngục đều đang truyền tụng. Công đức ấy của ngài thật là vô lượng vô biên. Nếu thái tử có thể thoả mãn nguyện vọng, chúng tôi muốn xin một con voi lớn.

Thái tử lập tức đáp ứng yêu cầu, sai thủ hạ đến chuồng bắt voi biếu các Bà la môn, nhưng họ từ chối nói :

- Con voi mà chúng tôi muốn là con voi tên là Tu Đàn Diên.

Thái tử nghe rồi có chút do dự, thầm nghĩ : “Voi này là bảo vật mà phụ vương ta yêu mến nhất. Phụ vương yêu mến nó như yêu mến ta vậy. Ta thật không có cách nào bố thí voi này. Nếu cho voi, nhất định sẽ mất đi sự yêu thương của phụ vương, thậm chí có thể bị đuổi ra khỏi nước không nhận ta là con nữa”. Nhưng suy nghĩ lại : “Ta đã phát lời thệ nguyện, khi bố thí thì phải thoả mãn nguyện vọng của tất cả mọi người. Nay nếu không bố thí voi này cho các vị đại sư, há không phải là vi phạm lời thề hay sao ? Lại nữa, ta quyết tâm làm cho mọi người đều được hạnh phúc, an lạc, nay nếu không bố thí voi thì các vị Bà la môn nhất định sẽ không vui”, nghĩ đến đây thái tử Tu Đại Noa khẳng khái đáp lời :

- Được rồi, tôi sẽ bố thí voi Tu Đà Diên cho các vị.

Lập tức sai người hầu đến chuồng voi gắn yên vàng cho voi và giao nó cho các vị Bà la môn. Các vị này vui mừng vô hạn, chúc phúc cho thái tử. Sau khi mọi người đã trèo trên lưng voi, thái tử nói :

- Thừa dịp phụ vương ta chưa biết, xin các vị hãy mau rời khỏi chỗ này. Nếu phụ vương biết được nhất định sẽ cho người đuổi theo bắt lại voi.

Các vị Bà la môn vội vàng cởi trên mình voi đi mất.

Các quan đại thần nghe nói thái tử Tu Đại Noa đã bố thí voi Tu Đàn Diên cho các vị Bà la môn ở nước địch thù, mọi người đều kinh hoàng thất sắc, đứng ngồi không an. Họ nói :

- Nước chúng ta nhờ voi báu này mà đánh thắng kẻ địch, mới giữ được quốc gia thịnh trị, gìn quốc thái dân an thế này. Nay voi báu bị nước địch dẫn đi, biết phải làm sao đây ?

Các quan vội đem việc này cấp báo lên vua Thấp Ba :

- Thái tử đã bố thí voi báu Tu Đàn Điên cho nước địch rồi.

Vua Thấp Ba nghe rồi cũng tức giận hai mắt trợn ngược. Các quan lại nói :

- Đại vương sở dĩ ngồi yên trên ngai vàng cai trị giang san là nhờ thần lực của voi không ai có thể sánh bằng, nó chống lại sức mạnh của hơn 60 con voi lớn. Nay thái tử bố thí đi rồi, e rằng không bao lâu nữa tai hoạ sẽ giáng xuống đất nước chúng ta. Những ngày gần đây thái tử đã làm theo ý muốn của mình, bố thí làm sạch của kho. Cứ như thế này, thì có một ngày ngài sẽ đem đất nước cùng với vợ con bố thí cho người.

Vua Thấp Ba nghe bá quan văn võ nói, nộ khí xung thiên, thét lên một tiếng, từ ngai vàng ngã xuống, bất tỉnh nhân sự. Người hầu hai bên vội vàng dùng nước lạnh đắp trên mặt nhà vua, vua mới dần dần tỉnh dậy. Nhà vua triệu tập quần thần, thảo luận cách xử trí thái tử. Một vị nói :

- Nước chúng ta vốn có qui định. Ai dám bước vào chuồng voi Tu Đàn Diên thì bị chặt chân; dùng tay chạm vào voi báu thì chặt tay. Thái tử Tu Đại Noa lần này đem voi báu cho người, theo luật phải chém.

Rất nhiều đại thần tán đồng ý kiến này. Nhà vua vô cùng buồn bã nói :

- Chỉ trách con trai trẫm tâm địa quá nhân từ lương thiện, lại ưa thích bố thí, hay là để ta giam thái tử vào ngục tối.

Lúc đó một vị đại thần khác lên tiếng :

- Chém đầu thái tử thì không thoả đáng cho lắm, vì đại vương chỉ có một người con trai. Còn nếu giam vào trong ngục thì tội ấy quá nhẹ. Theo ý kiến của thần nên đuổi thái tử ra khỏi nước, đày ngài nơi rừng sâu núi vắng 12 năm, cho ngài biết được lỗi lầm mà ăn năn hối cải.

Nhà vua và các quan đại thần đều đồng ý cách xử trí này. Vua Thấp Ba cho gọi thái tử Tu Đại Noa đến hỏi :

- Có phải ngươi đã đem voi báu trấn quốc bố thí cho nước láng giềng không ?

Thái tử trả lời :

- Thưa phải.

Vua Thấp Ba lại hỏi :

- Tại sao trước khi bố thí, ngươi không bẩm báo với ta ?

- Trước đó phụ vương đã cho phép con có thể tuỳ ý bố thí, thoả mãn tất cả yêu cầu của mọi người cho nên con không thưa bẩm với phụ vương.

- Ta cho phép con bố thí là tài sản châu báu, không phải voi báu

Thái tử trả lời :

- Voi báu cũng giống như tài sản ngọc ngà châu báu vậy, đều thuộc tài sản của phụ vương, tại sao lại ngoại lệ?

Vua Thấp Ba không trả lờiđược, tức giận nói :

- Ngươi tự tiện đem voi báu trấn quốc bố thí cho kẻ địch, nay các đại thần nghị quyết đày ngươi vào rừng sâu. Ngươi hãy đến núi Đàn Đặc, 12 năm không được phép trở lại.

- Xin tuân lệnh phụ vương. Nhưng trước khi ra đi con vẫn còn một tâm nguyện, mong phụ vương cho phép con được bố thí thêm bảy ngày để bày tỏ tấm lòng của con đối với nhân dân.

- Con đã bố thí quá nhiều, kho vua hết sạch sành sanh không còn 1 thứ, voi báu cũng bị bố thí cho người, cho nên ta mới đày con đi. Ta không cho phép con bố thí thêm 7 ngày, con hãy đi nhanh đi.

- Mệnh lệnh của phụ vương con không dám có ý trái nghịch. Trong cung con có một ít của cải riêng, xin phụ vương cho phép con bố thí số của cải này, con không đụng đến tài vật trong kho vua.

Nhà vua chấp thuận lời yêu cầu, thái tử lập tức phái người đi khắp nơi thông báo, ai muốn được bố thí, trong 7 ngày hãy đến cung điện của thái tử lãnh nhận. Trong 7 ngày này không biết bao nhiêu người tấp nập lũ lượt kéo đến. Chàng cho người dọn những của ngon vật lạ và tặng rất nhiều vàng bạc châu báu. Đến ngày thứ 7 Tu Đại Noa đã bố thí sạch sẽ tất cả tài sản của mình. Nhân dân toàn quốc thì hoan hô như sấm, rất nhiều người nghèo bần cùng đói khát nay đã sống cuộc đời no cơm ấm áo.

Thái tử nói với vợ rằng :

- Phụ vương đã quyết định đày ta vào trong núi Đàn Đặc 12 năm.

Man Đề giật mình hỏi :

- Chàng đã phạm lỗi gì mà phụ vương xử phạt như vậy ?

Thái tử trả lời :

- Vì ta bố thí quá nhiều, quốc khố bị ta làm sạch. Lại nữa, ta bố thí voi báu trấn quốc cho nước địch thù, cho nên phụ vương và các quan đại thần đều nổi giận lôi đình muốn đuổi đi

Man Đề nói :

- Sự việc đã như vậy chàng không cần phải nói nhiều, chúng ta cùng nhau vào rừng nỗ lực tu hành. Chỉ mong công đức ấy khiến đất nước giàu mạnh, phụ vương, các quan đại thần cùng nhân dân trong nước phước lạc vô biên.

- Cuộc sống trong núi vô cùng gian khổ, nàng từ nhỏ đã sống trong cung, y phục gấm vóc tố sa, đồ ăn thức uống toàn là sơn hào hải vị, muốn gì được nấy, làm sao có thể vào rừng lấy trái mà ăn, lấy cây làm nệm, đất làm giường. Chưa kể mưa gió sấm chớp thất thường, gió lạnh thổi như kim đâm thấu xương, mặt trời chói chang như ngồi trong lồng hấp, tấm thân yêu kiều của nàng làm sao chịu đựng cho được ? Đó là chưa nói đến nơi rừng sâu núi thẳm, khắp chốn gai góc um tùm, rắn độc thú dữ biết bao nhiêu loài, khi nào gặp nguy hiểm ta không biết được. Nàng đi không được đầu.

- Vợ chồng chúng ta cùng một thể, ân nghĩa nặng như núi, thiếp làm sao có thể vì cuộc sống an lạc sung sướng nơi lầu vàng gác ngọc mà để cho chàng một mình đi vào rừng sâu núi thẳm? Bất luận chàng đi đến đâu, thiếp đều theo chàng đến đó, tuyệt không xa cách. Lại nữa chàng vốn ưa thích làm việc thiện bố thí. Sau khi chàng đi rồi, nếu có người đến xin thiếp đồ ăn thức uống, tiền của thiếp làm sao đây? Thiếp thực sự không còn món gì để bố thí, nếu không cho, thì chẳng phải là bại hoại thanh danh của chàng hay sao? Nhưng vậy thiếp sẽ hối hận suốt đời.

- Ta đã thề sẽ làm thoả mãn bất cứ yêu cầu nào của ai, vì thế dù có người yêu cầu ta bố thí con cái cho họ ta cũng không thể cự tuyệt. Nếu nàng cùng đi với ta, nếu có người đến xin hai con thì làm sao? Nếu nàng ra mặt ngăn cản há chẳng phải là phá hại thiện tâm của ta ?

- Thế gian chưa bao giờ có được một người ưa thích bố thí như chàng vậy, thiếp nhất định đi theo chàng, còn việc bố thí chàng muốn làm gì đều được, thiếp nhất định ủng hộ chàng.

Thái tử nghe rồi rất vui nói :

- Nếu nàng có tâm như vậy thì hay quá.

Hai vợ chồng bèn dẫn hai đứa con đến chỗ hoàng hậu cáo từ, ngài thưa với mẹ rằng :

- Sau khi con ra đi, xin mẹ thường khuyên phụ vương, nhất định phải trị nước như pháp, không thể tuỳ tiện làm cho nhân dân chịu sự oan uổng.

Hoàng hậu nhìn thấy đứa con yêu quí bị đày, đau đớn như đứt ruột đứt gan, chỉ thầm cầu nguyện thần trời bảo hộ cho con cháu của mình bình an vô sự, không bị hoạn nạn, mong cầu mẹ con sớm được đoàn viên.

Nhân dân trong thành nghe tin thái tử bị đày đều đổ xô đến đưa tiễn, trong thành ngoài thành người đông như hội. Ra khỏi thành chàng ngồi dưới một gốc cây khuyên mọi người hãy dừng bước đưa tiễn. Nhân dân nhìn thấy vị thái tử tôn kính của mình vì hạnh phúc của mọi người mà bị đày vào rừng sâu chỉ đành gạt lệ quay về.

Thái tử Tu Đại Noa để cho Man Đề và hai con ngồi trên xe ngựa, còn mình đánh xe hướng núi Đàn Đặc xuất phát. Đi được vài ngày, một buổi trưa nọ, họ đang ngồi dưới gốc cây nghỉ ngơi thì có một người Bà la môn du phương tới nói mình đi không nổi, xin thái tử bố thí ngựa. Thái tử nghe rồi không nói lời thứ hai tháo ngựa ra tặng người Bà la môn.Ông ta cỡi ngựa đi mất. Tu Đại Noa để hai đứa con ngồi trên xe, mình kéo xe còn vợ thì ở sau đẩy, tiếp tục lên đường. Đi không bao lâu lại có một người Bà la môn đến nói mình cần một cái xe muốn xin thái tử bố thí. Chàng bèn đem xe bố thí. Họ chuẩn bị lên đường thì một người khác bước đến giơ tay xin. Thái tử nói :

- Không phải tôi không muốn bố thí, thực sự là tôi không còn món gì cả.

- Nếu thực sự ngài không còn gì nữa thì xin hãy cho tôi y phục kia.

Thái tử bèn cởi y phục bằng gấm vóc trên mình đưa anh ta và mặc vào người bộ đồ rách nát.

Đi được không xa lại gặp một người ăn mày, y phục của Man Đề cũng được cho đi. Thêm một đoạn đường, chàng bố thí luôn y phục của hai con. Lúc này thái tử đã bố thí hết xe ngựa tiền của, y phục, thật như người ta nói nghèo rớt mồng tơi. Ngài cõng con trai, vợ cõng con gái, tiếp tục đi đến núi Đàn Đặc.

Núi Đàn Đặc cách nước Diệp Ba hơn 600 dặm. Thái tử và vợ con ngày đi đêm nghỉ, đói ăn khát uống, trên đường chịu đủ mọi thứ gian khổ. Một ngày kia, họ đến một vùng hoang dã, trước không có làng, sau không quán, mọi người vừa đói vừa khát, hai đứa trẻ không chịu nổi khóc oà lên. Vua trời Đế Thích nhìn thấy tình cảnh như vậy liền hoá một thành phố giữa miền hoang dã, trong thành có người bước ra nghênh tiếp, sắp xếp chỗ ăn chỗ ngủ, Man Đề nói với chồng rằng :

- Núi Đàn Đặc còn xa quá, không biết đi bao lâu mới đến, đường đi cực khổ, hai con không chịu nổi. Chủ nhân ở đây hiếu khách như vậy, chúng ta hay là ở đây

Thái tử nói :

- Phụ vương ra lệnh đày ta vào núi Đàn Đặc, nếu ngừng ở đây thì trái lệnh phụ vương, không phải là hiếu tử.

Nói xong liền dẫn vợ con đi ra khỏi thành. Vừa ra khỏi thành quay đầu lại thì thành phố mình vừa nghỉ chân đã biến mất. Cả nhà lại tiếp tục lên đường. Không biết đi bao lâu cuối cùng một hôm, họ đã đến núi Đàn Đặc. Dưới chân núi là một con sông, sâu không thấy đáy, không cầu không thuyền, không cách nào qua sông. Man Đề nói với thái tử rằng :

- Chúng ta ở bên bờ đợi đến mùa đông, nước cạn thì có thể qua bờ bên kia

Thái tử nói :

- Phụ vương ra lệnh phải ở trong núi Đàn Đặc nếu ở đây thì không theo lời cha dạy.

Nói xong ngồi xuống xếp bằng thiền định trong chớp mắt trên dòng sông nổi lên một con đê nối liền hai bờ. Thái tử bèn dẫn vợ con qua sông. Sau khi qua sông, ngài nghĩ nếu để như vậy con đê sẽ chặn dòng nước ách tắc chỗ này, gây nên hồng thuỷ, thì giết hại rất nhiều sanh mệnh của bá tánh và các loài chim bay thú chạy cùng các loại côn trùng, bèn nói với dòng sông :

- Hãy khôi phục trạng thái ban đầu! Nếu sau này có người muốn qua sông thì hãy để cho họ qua đây.

Lời nói vừa dứt con đê đã biến mất, dòng sông lại tiếp tục trôi chảy.

Cả gia đình vào trong núi Đàn Đặc, nhìn thấy ngọn núi cao chót vót, cây cối sum xuê, nước chảy róc rách, quả rừng ngon ngọt, các loài chim thú lạ sống nhỡn nhơ, thái tử vui mừng nói với vợ :

- Chúng ta hãy an tâm ở đây tu hành.

Ngài bèn học theo cách thức những người tu đạo kết tóc lên, và dựng cho mình một gian nhà tranh nho nhỏ, lại lợp cho Man Đề và hai đứa con một túp lều tranh. Hai vợ chồng ngày ngày nỗ lực tu hành, đói ăn trái rừng, khát uống nước suối. Đứa con trai Gia Lợi lúc đó 7 tuổi, mặc y phục bằng cỏ theo sau thái tử, con gái kế Noa Diên 6 tuổi, mặc y phục làm bằng da nai theo mẹ. Thú nhỏ trong rừng thành những người bạn thân thiết, thường đến bên lều tranh chơi giỡn. Thái tử Tu Đại Noa đức hạnh cao thượng làm cho những con thú ăn thịt cũng cải tà qui chánh không làm tổn thương các loài động vật khác, đổi thành ăn cỏ. Cả núi rừng Đàn Đặc một không khí hiền hoà, yên tĩnh. Thái tử tinh tấn tu hành, Man Đề ngày ngày hái trái, múc nước dự trữ. Hai đứa con ngoài việc giúp cha mẹ thường vui đùa với sư tử, thi chạy với nai con, trèo cây với bọn khỉ.

Lúc đó, ởù một quốc gia tên là Cưu Lưu. Nước này có một người Bà la môn già rất nghèo, đến 40 tuổi mới cưới được vợ. Vợ ông ta thì rất xinh đẹp, còn ông ta lại rất xấu xí, già nua đen đúa, mắt lồi mũi hếch, mặt đầy nét nhăn, chân đi cà nhắc, ba phần giống người, bảy phần giống quỉ. Cô vợ chán người chồng của mình chỉ mong chồng chết sớm. Một ngày kia, người vợ đi gánh nước trên đường gặp phải đám thiếu niên tụ tập vui chơi. Đám thiếu niên này bao quanh lấy cô, đem tướng mạo xấu xí của người chồng làm trò trêu ghẹo :

- Nàng xinh đẹp như vậy sao lại lấy người xấu xí như ma quỉ, thật là đoá hoa nhài cấm bãi cứt trâu.

Người vợ Bà la môn trở về nhà, khóc rằng :

- Tôi vừa đi gánh nước, gặp phải đám thiếu niên trêu chọc. Ông lập tức kiếm người làm cho tôi. Có người làm tôi sẽ không phải đi gánh nước, sẽ không bị trêu ghẹo, chê cười như thế này.

- Nhà ta nghèo rớt mồng tơi làm sao mua được người hầu.

Người vợ tức tưởi :

- Nếu không có người làm cho tôi, tôi sẽ không sống chung với ông nữa. Tôi nghe nói thái tử Tu Đại Noa ưa thích bố thí nên bị cha mình đày vào núi Đàn Đặc. Ngài có hai đứa con, một trai, một gái. Ông đã không có tiền thì hãy vào trong núi xin hai đứa trẻ đem về đây.

- Núi Đàn Đặc rất xa, hơn 6000 dặm, tôi lại không biết đường làm sao đến đó được?

Người vợ bèn cầm con dao ra nói :

- Nếu ông không đi tôi tự sát ngay cho ông xem.

Ông chồng sợ quá vội vàng nói :

- Đừng, dù có tan xương nát thịt tôi cũng không để nàng chết. Được rồi tôi sẽ đem người làm về cho nàng.

Lão chuẩn bị hành trang lên đường. Trước tiên lão đến nước Diệp Ba, khi đến cửa hoàng cung bèn hỏi binh lính thị vệ :

- Các anh có biết thái tử Tu Đại Noa nay ở đâu không ? Làm thế nào mới được gặp ngài ?

Binh lính lập tức vào cung báo cáo cho vua Thấp Ba, nói bên ngoài có người Bà la môn đang hỏi thái tử. Vua Thấp Ba nghe rồi vừa thương tâm vừa tức giận, thầm nghĩ : “Con của ta vì bố thí cho các ngươi mà bị đày nơi xa xôi vạn dặm, vậy mà hôm nay các ngươi còn mặt mũi đến đây”, bèn kêu người Bà la môn vào cung uy hiếp :

- Bỏ củi vào lửa, lửa càng cháy càng mạnh, tâm ta ưu phiền giống như ngọn lửa đỏ. Ngươi hỏi thái tử như muốn thêm củi vào lửa chăng?

Lão Bà la môn nói :

- Danh tiếng của thái tử đã truyền khắp nơi. Nghe nói ngài ưa thích bố thí thoả mãn nguyện vọng của mọi người cho nên tôi từ xa đến đây muốn cầu xin một việc.

Vua Thấp Ba càng nổi nóng :

- Nay thái tử độc cư trong núi vắng, không còn thứ gì nữa, ngươi còn muốn bố thí cái gì?

Ông già thấy nhà vua gắt gỏng, nét mặt sa sầm, sợ quá vội nói :

- Tuy thái tử đã không còn một món gì, nhưng tôi rất muốn bái kiến ngài.

Vua Thấp Ba nhìn ông lão có vẻ thật thà, động lòng thương tình chỉ đường cho ông đi đến núi Đàn Đặc.

Lão Bà la môn ngày đi đem nghỉ, tìm đường đến núi, ông vượt qua con sông, bước vào trong núi nhưng không biết thái tử Tu Đại Noa ở đâu. Đang bàng hoàng, chưa biết đi hướng nào thì gặp được 1 người thợ săn. Lão vội hỏi :

- Anh thường săn bắn trong núi, có biết thái tử Tu Đại Noa ở đâu không?

Người thợ săn sớm đã nghe nói thái tử vì bố thí mà bị đày vào chốn thâm sơn cùng cốc nên cảm thấy bất bình, nay thấy người Bà la môn muốn kiếm thái tử bèn lấy dây trói ông vào cây, lấy roi ra đánh một trận thiếu sống thừa chết, khắp mình thương tích, rồi mắng rằng :

- Thái tử bị các ngươi hại cho khổ như thế này, ta giận không lóc được da ngươi, ăn thịt ngươi, xem ngươi còn muốn tìm ngài nữa không.

Lão Bà la môn sợ quá nghĩ thầm : “Hôm nay ta phải chết ở đây”, trong lúc nguy cấp bỗng nhiên nghĩ ra một kế :

- Tại sao anh không hỏi ta nguyên nhân đi tìm thái tử.

- Tại sao ngươi đi tìm thái tử, không phải là muốn bố thí sao?

- Không, vua Thấp Ba rất thương nhớ con cho nên sai tôi đến đây cho gọi thái tử trở về nước.

Người thợ săn ngỡ là thật, vội vàng cởi trói :

- Thực là có lỗi, tôi cho rằng ông giống như những người Bà la môn kia muốn thái tử bố thí, thật là mạo muội xúc phạm, xin tha thứ cho tôi.

Bèn đem chỗ ở của thái tử nói cho ông ta biết.

Lão Bà la môn theo lời chỉ dẫn tìm đến nơi thái tử cư trú. Nhìn thấy lão Bà la môn, thái tử vô cùng vui mừng, cung kính bước ra kính lễ, hỏi thăm :

- Đại sư từ đâu đến đây? Đường đi cực khổ chăng? Ngài đến đây có việc gì? Có yêu cầu gì không ?

Người Bà la môn nói :

- Tôi từ xa đến đây, toàn thân đau nhức, vừa mệt, vừa đói, lại khát.

Thái tử vội mời vào trong nhà tranh, dọn lên trái rừng nước suối, ăn uống xong, lão chùi miệng rồi nói :

- Tôi người nước Cưu Lưu, sớm nghe ngài ưa thích bố thí, tôi thực quá nghèo, muốn cầu ngài bố thí cho chút đỉnh.

- Tôi đối với tài sản vật chất không có chút luyến tiếc. Nhưng nay thật không còn gì để bố thí cho ngài.

- Tài sản đã không còn, thì hãy cho tôi hai đứa con của ngài. Như vậy tôi sẽ có người nuôi dưỡng lúc già yếu.

Thái tử nghe rồi yên lặng không nói, ông lại nhiều lần khẩn cầu. Không có cách nào, Tu Đại Noa than rằng :

- Ngài đã từ xa đến đây vì muốn hai đứa trẻ, làm sao không bố thí cho ngài được ?

Bèn kêu hai con đang vui giỡn đến trước mặt, nói với nó :

- Đây là người Bà la môn từ xa lặn lội đến, muốn đem hai con đi, ta đã nhận lời, các con hãy theo ông ta.

Hai đứa bé sợ quá khóc lên :

- Cha ơi đừng đem chúng con cho người này, mẹ đi hái trái chưa về, mẹ về không thấy chúng con thì thương tâm đứt ruột biết bao.

Thái tử nói :

- Cha đã nhận lời ông ta, lời nói ra rồi không thể rút lại. Các con hãy đi theo ông ta

Lão Bà la môn nói :

- Tôi lập tức lên đường, nếu không vợ ngài trở về, hai đứa trẻ sẽ không đi được, có phải là phụ lòng tốt của ngài không ?

Thái tử tức giận :

- Ngài yên tâm, lời nói ra tôi phải giữ lời, bố thí rồi không bao giờ hối hận.

Thái tử bèn dùng nước suối rửa tay cho ông lão Bà la môn, giao hai con vào tay người này. Lúc đó trời đất chấn động, sấm chớp ầm ầm. Hai đứa trẻ quỳ trước mặt cha vừa khóc vừa nói :

- Chúng con đã phạm lỗi lầm gì mà cha nỡ đuổi chúng con đi? Chúng con xin hứa từ nay sẽ nghe lời, không làm những việc sai lầm.

- Trên đời này không có tiệc rượu nào mà không tàn, các con đi đi! Sau này ta tu hành đắc quả, nhất định sẽ cứu độ các con.

Hai đứa trẻ thấy ý cha đã quyết, tuyệt vọng khóc :

- Khi mẹ trở về, xin cha thay thế chúng con chăm sóc cho mẹ, có lẽ chúng con không còn được gặp cha mẹ nữa.

Người Bà la môn xem vào :

- Tôi tuổi già sức yếu, ngài bảo hai đứa trẻ này đi theo tôi nhưng đi được nửa đường chúng bỏ trốn tìm mẹ thì tôi không làm sao được. Xin ngài hãy trói bọn trẻ lại, như thế chúng nó sẽ không trốn được.

Thái tử Tu Đại Noa dùng dây trói tay hai con giao cho người Bà la môn.Ông nắm hai đầu dây kéo, hai đứa trẻ vừa khóc lóc vừa vùng vẫy một mực không chịu đi. Người Bà la môn liền lấy roi đánh vào đầu vào mặt khiến cho hai trẻ máu chảy dầm dề. Thái tử thất thanh khóc lớn, các loài dã thú trong rừng cũng thương tâm vạn phần. Các loài cầm thú đi theo đưa tiễn thật xa rồi mới trở về chỗ cũ, muôn vật than khóc không thôi.

Mạn Đề hái trái trở về, không thấy con đâu. Nàng tìm khắp lều tranh của mình, rồi đến của chồng cũng không tìm thấy. Lại tìm đến chỗ con mình thường vui chơi, nai, chương, sư tử, khỉ vẫn còn ở đó mà không thấy bóng dáng của hai con. Nàng nóng ruột thương khóc trở về. Rừng núi cũng than thở trong tiếng khóc của nàng, hồ sen cũng vì vậy mà cạn nước. Man Đề trở về nhà hỏi thái tử :

- Hai con đâu rồi?

Thái tử yên lặng không trả lời.

- Mỗi ngày khi thiếp hái trái trở về, hai đứa từ xa đã tung tăng chạy đến ôm, phủi bụi cho mẹ. Sao hôm nay về mà không thấy hình bóng con. Thiếp hái những trái cây tươi ngon này cho ai đây! Tim gan thiếp sắp tan nát rồi. Xin ngài hãy nhanh nhanh cho thiếp biết, nếu không chắc thiếp sẽ điên lên.

Man Đề vừa khóc vừa kể nói liền ba lần mà thái tử vẫn yên lặng không trả lời. Nàng càng thêm thương tâm :

- Trở về không thấy hai con, đã làm lòng thiếp đau xót vô vàn, không ngờ ngài còn không để ý đến, làm lòng thiếp càng thêm đau xót.

Thái tử nói :

- Có người Bà la môn từ nước Cưu Lưu đến đây xin hai đứa trẻ, tôi đã bố thí cho người đó rồi.

Man Đề nghe đến đây tê cứng cả người té nằm trên mặt đất khóc lóc thê thảm.

Thái tử nói :

- Xin nàng đừng khóc nữa. Tôi sẽ kể cho nàng nghe một câu chuyện :

Xưa có một thanh niên Bà la môn, lại có một cô gái Bà la môn. Một lần nọ người thanh niên đến chỗ cô gái mua hoa cúng dường Phật. Cô gái bèn nhờ anh mang giúp mình 2 đoá hoa cúng dường Đức Phật, và nguyện Phật gia hộ cho chúng ta đời đời kiếp kiếp kết thành vợ chồng. Chàng thanh niên lúc đó nói với cô gái rằng :

- Nếu nàng làm vợ của ta thì tất cả phải nghe theo ý nguyện của ta. Nguyện vọng lớn nhất của ta là tận lực bố thí làm thoả mãn yêu cầu của mọi người trong thiên hạ. Ngoài cha mẹ không thể bố thí, còn bố thí vật gì nàng không được ngăn cản.

Cô gái đồng ý, nàng có nhớ chăng? Người thanh niên đó chính là ta, cô gái ấy là nàng. Nàng lúc đó đã chấp nhận lời yêu cầu của ta. Nay không nên vì bố thí hai đứa trẻ mà khóc lóc kêu la. Làm nhiễu loạn thiện tâm của ta.

Man Đề nghe chồng nói như vậy chỉ đành nhẫn chịu bi thương, nuốt nước mắt vào lòng thôi không khóc nữa.

Vua trời Đế Thích nhìn thấy thái tử Tu Đại Noa phẩm hạnh cao thượng vô cùng kính phục muốn thử thách thái tử xem ngài có thể thực hiện tinh thần bố thí rốt ráo hay chăng và cũng muốn hiểu tâm chàng muốn điều gì. Vua trời liền biến thành một lão Bà la môn vừa xấu vừa già gấp 10 lần so với ông lão ở nước Cưu Lưu, đến trước mặt thái tử nói :

- Nghe nói thái tử ưa thích làm việc bố thí, thoả mãn nguyện vọng của mọi người, tôi từ xa đến đây hy vọng ngài bố thí vợ cho tôi.

Thái tử nói :

- Được, xin ngài hãy dắt nàng đi

Man Đề vội vàng hỏi :

- Ngài bố thí tôi cho người này, sau này lấy ai hầu hạ lo lắng cho ngài.

- Nếu ta không đáp lời thỉnh cầu của người này thì không phải đã trái với nguyện vọng phổ độ chúng sanh hay sao?

Nói xong bèn giao Man Đề cho người Bà la môn. Vua trời Đế Thích biết được tâm ý hành thiện của thái tử vô cùng kiên định nên rất kính phục. Chư thiên ở cõi trời cũng vì đức hạnh ấy mà hết lời tán thán, đại địa đều chấn động. Lão Bà la môn kéo tay Man Đề đi được 7 bước rồi quay trở lại, trả cho thái tử, nói :

- Hãy giữ nàng lại đi, đừng có bố thí cho người khác nữa.

Thái tử nói :

- Tại sao ngài không đem nàng đi, hay là nàng có chỗ gì không tốt? Người nữ này tốt nhất trong tất cả những người nữ trong đời. Cha của nàng là vua một nước, nàng là con gái một, vì tôi nàng không từ lên non xuống biển, vào lửa bỏng nước sôi, ăn rau ăn cỏ, không một lời than oán. Sắc đẹp của nàng trên đời này không ai sánh bằng. Ngài hãy đem nàng đi đi.

- Ta không phải là Bà la môn, mà là vua trời Đế Thích. Ta đến đây để thử chí nguyện của Ngài.

Nói xong hiện ra thân hình Đế Thích, nói :

- Mỗi người nói ba nguyện ước. Tôi sẽ thoả mãn điều mong ước của các ngươi.

Mạn Đề chấp tay lễ Thiên Đế thích và nói :

- Điều thứ nhất tôi mong ước lão Bà la môn nước Cưu Lưu đem hai đứa con của tôi bán đến nước Diệp Ba. Điều thứ hai mong ước hai con tôi không còn bị khổ. Điều thứ ba ước rằng thái tử và tôi sớm được trở về nước.

- Công chúa an tâm, ba nguyện ước của nàng sẽ được thực hiện.

Thái tử Tu Đại Noa nói :

- Điều thứ nhất tôi nguyện tất cả chúng sanh đều được giải thoát, vĩnh viễn không bị cái khổ sanh, già, bệnh, chết.

Vua trời Đế Thích nói :

- Nếu ngài muốn làm vua trong vũ trụ, làm đế vương ở cõi thế gian này, hoặc muốn trường sanh bất lão thì tôi có thể làm được. Nhưng nguyện của ngài quá lớn chỉ có Đức Phật bậc vĩ đại nhất trong tam giới mới có thể thoả mãn nguyện này. Tôi không có cách nào làm cho ngài thoả mãn.

Thái tử lại nói :

- Điều thứ hai tôi nguyện có tiền của vô cùng vô tận, mặc tình bố thí không bao giờ thiếu. Điều thứ ba nguyện cha tôi và các quan đại thần đều muốn gặp tôi.

- Tôi nhất định sẽ thoả mãn hai nguyện vọng này của ngài.

Lão Bà la môn của nước Cưu Lưu đem hai đứa bé về đến nhà, người vợ chẳng những không vui mà còn mắng cho một trận :

- Hai đứa trẻ này là con cháu vua chúa, lòng dạ ông thật là ác độc, sao bắt nó làm nô bộc?

Vừa mắng vừa lấy củi đánh lão bầm dập thương tích, hét rằng :

- Lập tức đem bán hai đứa này mua hai đứa nô bộc khác về cho tôi.

Lão Bà la môn không biết làm sao, bèn đem hai đứa trẻ kéo ra đường. Lúc đó Ngài Đế Thích hoá làm thương nhân nói với những người đi đường rằng :

- Hai đứa trẻ này rất quí, không ai có thể mua nổi.

Lão Bà la môn đứng cả buổi trên đường mà không một ai hỏi mua. Vua trời Đế Thích bèn đưa ý kiến cho ông

- Ở đây bán không ai mua, hay là đến nước Diệp Ba bán.

Thế là lão Bà la môn bèn đem hai đứa trẻ đến nước Diệp Ba. Quan dân của nước Diệp Ba đều nhận ra hai đứa trẻ là con trai con gái của thái tử Tu Đại Noa. Thấy một lão Bà la môn dắt đi rao bán ai nấy đều giật mình. Các quan đại thần hỏi người Bà la môn :

- Ngươi từ đâu được hai đứa trẻ này?

Người Bà la môn trả lời :

- Hai đứa trẻ này tôi xin được, có quan hệ gì với các ngài.

- Ngươi đã đến đất nước của chúng ta thì chúng ta có quyền hỏi.

Phần đông các quan đại thần và dân chúng muốn giành lại hai đứa trẻ này. Lúc đó có một ông già ngăn lại nói :

- Thái tử một lòng bố thí, phổ độ chúng sanh đến mức độ này, thật khiến người cảm thán! Nếu chúng ta đoạt hai đứa trẻ này, có phải là làm hại sự khổ tu của thái tử sao? Chi bằng lập tức báo cáo cho quốc vương hay, ngài nhất định sẽ chuộc hai đứa trẻ này về.

Các quan đại thần bèn đem việc này báo cáo cho vua Thấp Ba. Vua lập tức sai người đem lão Bà la môn và hai đứa trẻ vào trong hoàng cung. Quốc vương và hoàng hậu nhìn thấy thảm cảnh hai đứa trẻ bị người Bà la môn trói tay kéo đi đều thổn thức. Vua Thấp Ba hỏi :

- Ngươi làm sao mà được hai đứa trẻ này?

- Tôi xin của thái tử Tu Đại Noa.

Vua Thấp Ba rơi lệ, giơ hai tay muốn ôm hai đứa trẻ vào lòng, nhưng hai đứa trẻ khóc tránh qua một bên, không để cho ông nội ôm. Vua hỏi lão Bà la môn :

- Hai đứa trẻ này ngươi dự định bán bao nhiêu tiền ?

Lão Bà la môn chưa kịp trả lời thì đứa con trai đã nói :

- Con trai bán 1000 đồng tiền bạc, 100 con trâu; con gái bán 2000 đồng tiền vàng.

Vua Thấp Ba nói :

- Ai cũng thích con trai, tại sao nay con trai lại rẻ, con gái lại đắt?

Đứa con trai trả lời :

- Cung nữ trong hậu cung của Đại vương vốn không có quan hệ thân thích của đại vương, có người xuất thân thấp hèn, có người vốn là nô tì. Nhưng chỉ cần đại vương sủng ái thì giá trị lập tức tăng lên gấp trăm lần, đeo vàng ngọc châu báu, nếm đủ các thức ăn ngon ngọt, hưởng các thứ vinh hoa phú quí. Còn đứa con trai độc nhất của đại vương bị đầy vào rừng hoang núi vắng chịu đủ mọi thứ cực khổ, cho nên con trai không đáng giá, con gái mới đáng giá.

Vua Thấp Ba nghe cháu nội nói như vậy thương xót nước mắt ràn rụa, hồi lâu mới nói ra lời :

- Ông nội có lỗi với các cháu. Cháu không chịu để cho nội ôm là oán hận nội hay là sợ người Bà la môn ?

- Cháu không dám oán hận đại vương cũng không hận người Bà la môn này. Trước kia là cháu đại vương, mà nay đã thành kẻ hầu của người, làm sao có chuyện đại vương ôm kẻ nô bộc, cho nên cháu không dám để cho nội ôm.

Vua Thấp Ba nghe nói như vậy càng thêm thương tâm, bèn theo giá cả mà đứa cháu đã nói trả tiền cho người Bà la môn, rồi quay người ôm chặt hai đứa cháu vào lòng hỏi :

- Các cháu ở trong rừng ăn cái gì ? Mặc cái gì ?

- Chúng cháu ăn trái rừng, rau rừng, mặc áo vỏ cây, lá cây, ca hát với chim muông, vui chơi với các loài thú.

Quốc vương ra lệnh đưa người Bà la môn ra khỏi hoàng cung, bé trai nói :

- Lão Bà la môn này cũng đói rồi, xin đại vương cho ông ta ăn no rồi sẽ đi.

vua Thấp Ba nói :

- Cháu không hận ông ta sao? Tại sao lại muốn mời ông ta ăn cơm nữa?

- Cha của cháu suốt đời tu đạo hành thiện, vì không có gì để bố thí nên mới đem hai anh em cháu bố thí cho người Bà la môn này. Cha là tấm gương sáng, chúng cháu cần phải học tập theo. Người Bà la môn này vừa đói vừa khát, cháu làm sao không thương xót? Cha của cháu còn có thể đem những đứa con ruột bố thí cho người Bà la môn chẳng lẽ đại vương không thể bỏ được bữa cơm?

Vua Thấp Ba liền ra lệnh dọn cơm cho người Bà la môn ăn. Người Bà la môn ăn xong vui vẻ ra về.

Vua Thấp Ba lập tức phái sứ giả đến núi Đàn Đặc nghênh tiếp thái tử về nước. Sứ giả đến núi Đàn Đặc tuyên đọc vương mệnh đón thái tử trở về nước. Thái tử nói :

- Đại vương ra lệnh cho ta phải đày 12 năm ở đây, nay còn một năm, đến kỳ hạn ta sẽ trở về.

Sứ giả vô phương trở về nước bẩm lại với vua Thấp Ba, vua Thấp Ba viết một bức thư, phái sứ giả đến núi Đàn Đặc lần nữa, thái tử nhận thư, chỉ thấy trong thư viết rằng : “Con là người thông minh làm việc gì cũng lấy từ bi làm cốt yếu, sao giận hờn mà không trở lại. Ta vì con mất ăn mất ngủ. Con hãy vì ta trở về”. Thái tử bèn lên đường trở về nước.

Các loài cầm thú trong núi biết được thái tử sắp về nước, quyến luyến không rời, đưa tiễn mãi thật xa. Nhà vua nước địch thù lấy đi con voi trấn bảo của nước Diệp Ba nghe được tin này, dùng vàng bạc làm yên trang sức cho voi báu, phái sứ giả nửa đường bái kiến thái tử, xin lỗi rằng :

- Trước kia, bị mê mờ tâm trí nên đến xin voi báu này, làm hại thái tử bị đày vào trong rừng vắng. Nay được tin thái tử trở về nước, vô cùng vui mừng, xin đem voi báu trả lại, mong thái tử tha tội.

Ngoài ra còn tặng rất nhiều vàng bạc châu báu. Nhưng thái tử trả lời :

- Lời nói ra như nước trôi đi, như gió đã qua, như đồ ăn mửa ra, không thể thâu trở lại. Tôi bố thí cũng như vậy, tuyệt đối không có thâu trở lại. Các ngươi hãy lập tức cỡi voi báu này trở về nước. Xin thay tôi dâng lời cám ơn nhà vua đã phái sứ giả từ xa đến thăm hỏi.

Sứ giả chỉ đành dắt voi trở về. Vua nước địch nghe lời sứ giả bẩm cáo vô cùng cảm động, từ đó hai nước giao hảo tốt đẹp, không còn xâm phạm lẫn nhau nữa.

Vua Thấp Ba nghe thái tử trở về nước, tự mình cởi trên voi lớn ra thành đón mừng. Thái tử thấy phụ vương vội vàng bước đến khấu đầu đảnh lễ, theo sau phụ vương cùng vào trong thành. Dân chúng trong thành treo đèn kết hoa, hân hoan nhảy múa, dùng nước thơm tưới đất, dùng hoa tươi kết thành vòng hoa nghênh tiếp thái tử. Thái tử vào trong hoàng cung, đến thăm mẫu hậu. Vua Thấp Ba đem tất cả tài vật trong kho giao cho thái tử. Thái tử Tu Đại Noa từ đó càng thêm ưa thích bố thí, cuối cùng chứng đắc Phật quả.

Ngụ ý :

Thái tử Tu Đại Noa theo tinh thần giáo hoá của chư Phật “vô duyên đại từ, đồng thể đại bi”, “không cầu an lạc cho mình, chỉ mong chúng sanh được lìa khổ”. Bố thí tất cả của cải vàng bạc châu báu, lại bố thí cả vợ và con, đây là tinh thần bố thí Ba la mật, một trong lục độ vạn hạnh của Bồ tát đạo.

Phàm phu chúng ta nên giữ tâm thanh tịnh, không nên chạy theo tiền tài vật chất danh lợi, làm mất đi bản tánh của mình, mà phải bị luân hồi đoạ lạc vào trong các cảnh giới khổ đau.

BÀI LIÊN QUAN

Đức Phật trong kinh Hoa Nghiêm và Đức Phật lịch sử  ( TK. Giác Hoàng , 4073 xem)

Đức Phật là bậc thầy của các nhà khoa học  ( Hòa thượng Thích Thanh Từ , 4 xem)

Đức Phật - Vị vua không ngai vàng  ( Tỳ kheo Giác Đoan , 4510 xem)

Tính nhân bản của Đức Phật  ( Thượng tọa Giác Nhân , 4973 xem)

Nét đẹp "rất người" của đức Từ Phụ  ( Huệ Phước , 3788 xem)

Đức Phật vì hạnh phúc con người  ( Hòa thượng Giác Toàn , 4796 xem)

Những bài học từ cuộc đời Đức Phật  ( Thích Tâm Hạnh , 3825 xem)

Đức Phật với điển tích “Du quán tứ môn”  ( Pháp Vương Tử , 3749 xem)

Vương quốc tỉnh thức của đức Từ Phụ  ( Mục Đồng , 3592 xem)

Ý KIẾN BẠN ĐỌC