NI TRƯỞNG HUỲNH LIÊN
  • Thích Nữ Huỳnh Liên
  • Thích Nữ Huỳnh Liên
  • Thích Nữ Huỳnh Liên

 

Nguyện xin hiến trọn đời mình

Cho nguồn Đạo pháp cho tình Quê hương

 

THẬP ĐẠI ĐỆ TỬ
  • Thích Nữ Bạch Liên
  • Thích Nữ Thanh Liên
  • Thích Nữ Kim Liên
  • Thích Nữ Ngân Liên
  • Thích Nữ Chơn Liên
  • Thích Nữ Quảng Liên
  • Thích Nữ Quảng Liên
  • Thích Nữ Tạng Liên
  • Thích Nữ Trí Liên
  • Thích Nữ Đức Liên
  • Thích Nữ Thiện Liên
THÔNG BÁO

Tuyển sinh đại học chuyên ngành Hán Nôm hệ Vừa làm vừa học tại TP. HCM

Năm 2016, Trường Đại học Khoa học Xã hội & Nhân văn - Đại học Quốc gia TP. Hồ Chí Minh xét tuyển thẳng những thí sinh đã có bằng tốt nghiệp của các trường đại học thuộc hệ thống giáo dục quốc dân; những thí sinh tốt nghiệp THPT đạt từ 15 điểm trở lên không nhân hệ số trong kỳ thi THPT Quốc gia năm 2016 gồm các tổ hợp môn: Ngữ văn - Lịch sử - Địa lý, Ngữ văn - Lịch sử - Tiếng Anh, Ngữ văn - Toán - Tiếng Anh; đã tốt nghiệp THPT hoặc tương đương có điểm trung bình cộng 3 năm lớp 10, lớp 11, lớp 12, đạt từ 6.0 trở lên, theo nguyên tắc xét tuyển những thí sinh có điểm trung bình cộng từ cao xuống thấp cho đến khi đủ chỉ tiêu. Xem trang mạng: http://dt.hcmussh.edu.vn/

VIDEO HÔM NAY

Nhạc Niệm Phật -

Pháp âm MP3

  • 0 - Lời Mở Đầu
  • 01 - Võ Trụ Quan
  • 02 - Ngũ Uẩn
  • 03 - Lục Căn
  • 04 - Thập Nhị Nhơn Duyên

LỊCH VIỆT NAM

THỐNG KÊ

 

Trang chủ > Đức Phật

Đức Phật - Vị vua không ngai vàng

Tác giả: Tỳ kheo Giác Đoan.  
Lượt xem: 4388 . Ngày đăng: 09/06/2014In ấn

Đức Phật - Vị vua không ngai vàng

Phần “Sức mạnh” trong phẩm Gia chủ của Kinh Tăng Chi Bộ III, có đề cập đến tám loại sức mạnh, và trong đó có nói đến "Sức mạnh của vua chúa là uy quyền". Quả thật vậy, ngai vàng và quyền lực là sức mạnh của những bậc đế vương. Nếu vị vua mà không có uy quyền thì chẳng khác chi chiếc hình nộm được người khác thích đặt đâu thì đặt; hay như một cái xác không hồn không sức sống, đi qua đi lại trước mặt mọi người để làm trò giải trí, tiêu khiển cho thiên hạ mà thôi. Cho nên dù là minh quân hay hôn quân, họ đều có sức mạnh, uy quyền đủ để khiến cho mọi người phải kiêng sợ và dè chừng. Tuy nhiên, trong cõi đời này lại có một vị vua không có một chút uy quyền, quyền lực trong tay, nhưng lại đủ khả năng nhiếp hóa mọi người mọi loài, dù là Ma Vương hay Phạm Thiên.... đồng thời khiến cho ba cõi sáu đường trong tam thiên đại thiên thế giới đều kính phục, tôn xưng là thầy, vị vua ấy chính là đức Thế Tôn, bậc Chánh Biến Tri, một đấng Pháp vương vô thượng tôn nhưng không hề có được chiếc ngai vàng, điện ngọc.

Quyền lực và ngai vàng là những gì mà con người ao ước, mong muốn, tranh đoạt; đặc biệt là những người tham vọng, luôn muốn sở hữu để chi phối, điều khiển người khác phải tuân theo mệnh lệnh của mình, và thiết lập địa vị tối cao trong khu vực mà mình đang làm chủ. Không những thế, tâm tham vọng còn thúc đẩy sự tranh chấp, gây nên những thảm họa cho cuộc sống. Nhưng rốt cuộc sức mạnh và quyền lực ấy lại là nô bộc trung thành cho chính cái tâm tham vọng, không biết đủ đang sai sử mình mà thôi. Như vậy, Đế vương tuy có ngai vàng, quyền lực trong tay nhưng vẫn còn bị chi phối bởi thất tình lục dục, bởi cái tâm tham lam, sân giận và si mê như trong Kinh Rathapàla số 82 của Trung Bộ II đã từng khẳng định:

“Thế giới là vô thường, đi đến hủy diệt; Thế giới là vô hộ, vô chủ; Thế giới là vô sở hữu, ra đi cần phải từ bỏ tất cả; Thế giới là thiếu thốn, khao khát, nô lệ cho tham ái”.

Ngược lại, đức Thế Tôn không hề có chiếc ngai vàng nào nhưng lại làm chủ và nhiếp hóa được các tướng quân tham sân si độc hại kia. Ngài đã khẳng định bên cạnh sức mạnh của vua là quyền lực thì còn có những sức mạnh khác đáng được theo đuổi, tìm cầu hơn ngai vàng quyền lực, đó là sức mạnh cảm hóa của bậc Hiền Trí.

Khi còn là một Đông cung Thái tử nhất mực được cưng chiều, được mọi người kính trọng, được vua cha tin tưởng tuyệt đối, chuẩn bị kế nghiệp vua cha điều hành quốc gia dân tộc, nhưng Ngài vẫn sống trong sự bất an, lo lắng về hiện tượng sanh già bệnh chết của tự thân cũng như đối với xã hội nhân sinh, và cuối cùng, Người vứt bỏ tất cả để ra đi tìm cầu chân lý, tìm cái sức mạnh đủ khả năng làm chủ những bất an lo lắng của kiếp người và thoát ra khỏi sự chi phối của sanh lão bệnh tử.

Sau thời gian thực nghiệm đủ mọi phương pháp truyền thống hiện có trong tư tưởng xã hội Ấn thời bấy giờ như tứ thiền bát định, cho đến hành xác khổ hạnh, mà vẫn chưa đạt được ý nguyện, Ngài quyết định nỗ lực tu tập thiền định, và đã khám phá ra con đường làm chủ lấy chính mình, chiến thắng đội quân thiện chiến do Ma vương ba-tuần cùng các cô con gái xinh đẹp của ông ta quấy phá nhiễu loạn, để thiết lập nên vương quốc không lãnh thổ chủ quyền, không người cai trị, và đặc biệt là không hề có được chiếc ngai vàng hay chút quyền lực nào. Từ đây vương quốc tỉnh thức, giác ngộ chính thức được khai mở, thành lập.

Sau khi khai lập vương quốc giác ngộ, con đường tỉnh thức đã được tuyên giảng rộng rãi cho nhân sinh, giúp cho mọi người thấy được con đường đi đến chân lý, con đường giúp cho đức Phật trong mỗi người được đản sinh như Ngài từng tuyên bố trong Kinh Pháp Hoa: "Tất cả chúng sanh đều có khả năng thành Phật. Ta là Phật đã thành. Chúng sanh là Phật sẽ thành, nếu chúng sanh tinh tấn nỗ lực tu hành thì cũng sẽ thành Phật như ta vậy", và đã dạy trong Đại Phẩm của Luật Tạng rằng: “Hãy đi! Hỡi các Tỷ-kheo, vì lợi lạc số đông, vì hạnh phúc của số đông, vì lòng lân mẫn với thế gian, vì lợi lạc, vì hạnh phúc của loài Trời và loài người. Các người hãy đi, nhưng đừng đi hai người cùng một hướng. Hãy truyền bá đạo pháp, hỡi các Tỷ-kheo. Đạo pháp toàn thiện ở phần đầu, phần giữa cũng như phần cuối, cả trong ý tứ và lời văn, hãy tuyên bố về cuộc sống Thánh, toàn thiện và thanh tịnh…”

Như vậy, vì lòng bi mẫn đối với chúng sanh, vì Phật tánh trong mỗi sanh linh mà Ngài đã khuyến hóa, dùng sức mạnh của bậc Hiền Trí để cảm hóa nhân sanh, giúp cho người đời nhìn thấy ánh sáng giác ngộ tỉnh thức, tạo điều kiện cho hạt giống trí tuệ giải thoát được đâm chồi nảy lộc, phát triển trong nhân gian, để cho ai ai cũng đạt được chân hạnh phúc, sự thanh tịnh tối thượng như chính mình.

Trong vương quốc giác ngộ tỉnh thức của Ngài hoàn toàn vắng bóng giai cấp, mà chỉ có sự bình đẳng trong Pháp và Luật như được ghi lại trong Phẩm Atula Pahàràla, Chương Tám Pháp thuộc Kinh Tăng Chi Bộ III: “Này Pahàràda, có bốn giai cấp: Sát-đế lợi, Bà-la-môn, Phệ-sá, Thủ-đà-la, sau khi từ bỏ gia đình, xuất gia trong Pháp và Luật được Như Lai tuyên bố này, họ từ bỏ tên và họ của họ từ trước và họ trở thành những Sa-môn Thích tử”. Không những vậy, tinh thần bình đẳng của Ngài còn được thể hiện qua lối sống lục hòa. Tinh thần này cũng được nhắc lại trong bài Tiểu kinh Rừng sừng bò - Cùlagosinga sutta- số 31 của Trung Bộ Kinh về đời sống hòa hợp giữa 3 Tôn giả Anuruddha, Nandiya và Kimbila.

Ở vương quốc giác ngộ, không phân biệt giàu nghèo, một khi đã gia nhập vào Tăng đoàn và là một vị Tỷ-khưu tu tập theo giáo pháp của Ngài đều có quyền biểu quyết như nhau, mà đặc biệt là Pháp Yết-ma để giải quyết những công việc chung của Phật giáo. Chính điều này đã làm nguyên phó vương Ấn Ðộ - Hầu Tước của Zetland - đã liên tưởng việc “Hệ thống nghị viện vay mượn từ Phật giáo” được ghi lại trong tác phẩm “Phật giáo dưới mắt các nhà trí thức” do Tỳ-kheo Thích Tâm Quang dịch:

“Có thể chắc chắn là khuynh hướng về một chính phủ tự trị biểu lộ bởi những hình thức đa dạng của sự hợp tác nhận được từ sự thúc đẩy của Phật giáo về sự bác bỏ quyền hành của giới chức thầy tu và xa hơn nữa chủ thuyết bình đẳng của Phật giáo minh chứng bằng sự loại bỏ giai cấp đặc quyền. Quả nhiên về các sách Phật giáo, chúng ta phải thừa nhận đường lối trong những vụ điển hình lúc sơ khai về các cơ cấu đại diện tự quản trị được điều động. Có thể là một ngạc nhiên cho nhiều người biết rằng, trong các cuộc hội nghị của Phật giáo từ trên 2500 năm qua người ta đã thấy những hoạt động giống như ngày nay chúng ta thực thi tại nghị trường. Thẩm quyền trong hội nghị được bảo vệ bằng cách bổ nhiệm một giới chức đặc biệt như Viện trưởng đầu tiên trong Hạ nghị viện của chúng ta. Một giới chức thứ hai được bổ nhiệm để kiểm soát khi túc số cần thiết được bảo đảm, theo kiểu Nghị viện Chief Whip trong hệ thống của chúng ta. Một nhân viên phụ trách điều động dưới hình thức biểu quyết sau khi vấn đề được mang ra thảo luận. Trong một vài trường hợp vấn đề chỉ phải làm một lần, và đến ba lần trong các trường hợp khác, thủ tục tại Nghị viện đòi hỏi dự án phải được đọc lần thứ ba trước khi dự án này thành luật. Nếu cuộc thảo luận có những quyết định bằng đa số tuyệt đối trong một cuộc bầu phiếu kín”.

Mọi người đều có khả năng chứng Thánh quả, làm chủ vương quốc giác ngộ từ việc tu tập theo giáo pháp ấy như nhau. Điều này đã làm một cuộc cách mạng giải phóng giai cấp, kiến lập vương quốc không giai cấp, không chủng tộc màu da sắc tướng, dù Âu, Á hay Phi… mà chỉ có chất liệu giải thoát, tự tại mà thôi.

Đồng thời ở đây còn có điểm đặc sắc hơn, lãnh thổ của vua Ba-tư-nặc hoặc các vương quốc khác đều chỉ có một chiếc ngai vàng cùng một vị vua cai trị; nếu chỉ cần thêm một vị quốc vương nữa thì ắt hẳn vương quốc ấy sẽ xảy ra biến cố và đem lại sự bất an lo lắng cho mọi người. Trái lại, vương quốc của sự giác ngộ càng nhiều vị vua tỉnh thức chừng nào thì vương quốc ấy lại càng được an vui chừng nấy. Cho nên giáo sư P.V. Bapat - nguyên Giáo sư Văn Hóa Ấn Độ Cổ đại; Pali và Phật học tại Trường Đại học Poona (Puna) và Trường Cao đẳng Fergusson, Poona - đã nhận định trong quyển "2500 Năm của Phật giáo":

“Chưa có một trang lịch sử nào của Phật giáo bị xóa nhạt bởi ánh sáng của ngọn lửa tòa án dị giáo hay bị bôi đen bởi làn khói dị giáo hay các nơi thị tứ vô tín ngưỡng bốc cháy, hay bị nhuộm đỏ với máu của các nạn nhân vô tội vì hận thù tôn giáo. Phật giáo chỉ dùng một thanh gươm, đó là gươm Trí tuệ và chỉ thừa nhận kẻ thù, đó là Vô minh. Ðó là chứng tích của lịch sử không thể chối cãi được”.

Quả thật như lời nhận định của giáo sư Bapat, vương quốc giác ngộ từ ngày kiến lập đã và chỉ có truyền bá con đường Trí tuệ để diệt trừ tướng soái Vô minh, chứ không hề truyền bá bằng con đường binh đao, hay tòa án dị giáo… để đi ngược lại với chủ trương đem Trí tuệ và Tình thương đến với nhân sanh mà đức Thế Tôn đã chỉ dạy cho hàng Sa-môn Thích tử. Con đường mở rộng vành đai của vương quốc giác ngộ lại được chỉ đạo bởi vị tướng quân Tình thương, cùng thanh gươm Trí tuệ để đoạn trừ phiền não ma quân của tướng soái Vô minh; một điều trái ngược hoàn toàn với cách các vị đế vương, lãnh chúa mở rộng biên giới bờ cõi bằng gươm đao, giáo mác cùng với máu và máu. Cho nên giáo sư Bapat mới nhận định như thế. Chính vì vậy, một nhà văn hào Âu châu đã nhận định về Ngài, được ghi lại trong tác phẩm “Phật giáo dưới mắt các nhà trí thức” rằng:

“Không có nơi nào trong thế giới tôn giáo, sùng bái và tín ngưỡng mà chúng ta có thể tìm thấy một vị giáo chủ chói sáng như thế! Trong hàng loạt các vì sao, ngài là vì tinh tú khổng lồ, vĩ đại nhất. Một số các khoa học gia, triết gia, các nhà văn hóa đã tuyên bố về ngài “Con người vĩ đại nhất chưa từng có”. Ánh hào quang của vị Thầy vĩ đại này soi sáng cái thế giới đau khổ và tối tăm, giống như ngọn hải đăng hướng dẫn và soi sáng nhân loại”.

Chính yếu tố hướng dẫn như ngọn hải đăng dẫn đường, soi sáng cho cái thế giới đầy khổ đau và tăm tối ấy đã tạo nên bản sắc, nét đặc thù của vương quốc giác ngộ. Và cũng từ đây, chúng ta thấy được chủ trương, con đường, phương cách vận hành, cũng như những gì tinh túy nhất mà vương quốc giác ngộ mang lại cho nhân sinh. Cho nên nhiều lần Tôn giả Ananda đã tán dương về sự vĩ đại của đức Thế Tôn rằng:

“Này Bà-la-môn, Đấng Thế Tôn ấy là bậc làm cho khởi dậy con đường trước đây chưa từng được hiện khởi, làm cho biết con đường trước đây chưa từng được biết, nói lên con đường trước đây chưa từng được nói; là bậc hiểu đạo, biết đạo và thiện xảo về đạo”.

Và để kết thúc vấn đề này, người viết xin mượn lời nói của Abdul Atahiya - một thi nhân Hồi giáo được ghi lại trong tác phẩm “Đức Phật dưới mắt các nhà tri thức” để diễn tả cái đẹp, cao quý nhưng lại khá bình dị và thú vị về hình ảnh của vị vua không ngai vàng:

“Nếu bạn muốn thấy người cao quý nhất của loài người, bạn hãy nhìn vị Hoàng đế trong y phục một người ăn xin; chính là Ngài đó, siêu phàm thánh tính của Ngài thật vĩ đại giữa con người”.

Nguồn: daophatkhatsi.net

http://daophatkhatsi.net/duc-phat/cong-hanh-duc-phat/1952-duc-phat-vi-vua-khong-ngai-vang.html

BÀI LIÊN QUAN

Tính nhân bản của Đức Phật  ( Thượng tọa Giác Nhân , 4905 xem)

Nét đẹp "rất người" của đức Từ Phụ  ( Huệ Phước , 3716 xem)

Đức Phật vì hạnh phúc con người  ( Hòa thượng Giác Toàn , 4708 xem)

Những bài học từ cuộc đời Đức Phật  ( Thích Tâm Hạnh , 3669 xem)

Đức Phật với điển tích “Du quán tứ môn”  ( Pháp Vương Tử , 3657 xem)

Vương quốc tỉnh thức của đức Từ Phụ  ( Mục Đồng , 3512 xem)

Ý KIẾN BẠN ĐỌC