NI TRƯỞNG HUỲNH LIÊN
  • Thích Nữ Huỳnh Liên
  • Thích Nữ Huỳnh Liên
  • Thích Nữ Huỳnh Liên

 

Nguyện xin hiến trọn đời mình

Cho nguồn Đạo pháp cho tình Quê hương

 

THẬP ĐẠI ĐỆ TỬ
  • Thích Nữ Bạch Liên
  • Thích Nữ Thanh Liên
  • Thích Nữ Kim Liên
  • Thích Nữ Ngân Liên
  • Thích Nữ Chơn Liên
  • Thích Nữ Quảng Liên
  • Thích Nữ Quảng Liên
  • Thích Nữ Tạng Liên
  • Thích Nữ Trí Liên
  • Thích Nữ Đức Liên
  • Thích Nữ Thiện Liên
THÔNG BÁO

Thông báo mời cộng tác viết bài ĐUỐC SEN mùa VU LAN 2019

Đuốc Sen – Đặc san của Hệ phái Khất sĩ, là nơi nói lên quan điểm của người con Phật về các vấn đề văn hóa, giáo dục, hoằng pháp, tâm linh, tu tập… Ngoài ra, đây là kênh của người con Khất sĩ thể hiện nhận thức về nội hàm bộ Chơn Lý của Tổ sư Minh Đăng Quang.

Thông báo thời gian Khóa tu, lễ Tưởng niệm và Phật sự quan trọng trong tháng 3 năm Kỷ Hợi – 2019 của Ni giới Khất sĩ

- Ngày 19 tháng 3: Lễ Tưởng niệm lần thứ 32 Ni trưởng Đệ Nhất - Ngày 24 tháng 3: Lễ khánh thành Tịnh xá Ngọc Quang, ấp Thuận An, xã Long Thuận, TX. Gò Công, Tiền Giang

Thông báo Kỳ thi nhân ngày lễ Tưởng niệm lần thứ 32 Ni trưởng Đệ Nhất

Nhân ngày lễ Tưởng niệm lần thứ 32 Ni trưởng Huỳnh Liên, Đệ Nhất Trưởng Ni giới Hệ phái Khất sĩ Việt Nam, tại Tổ đình Ngọc Phương sẽ tổ chức kỳ thi về cuộc đời và đạo nghiệp của Ni trưởng Đệ Nhất.

VIDEO HÔM NAY

Thành tựu của sự nghe Pháp - Hòa thượng Giác Giới

Pháp âm MP3

  • 0 - Lời Mở Đầu
  • 01 - Võ Trụ Quan
  • 02 - Ngũ Uẩn
  • 03 - Lục Căn
  • 04 - Thập Nhị Nhơn Duyên

LỊCH VIỆT NAM

THỐNG KÊ

 

Trang chủ > NT Huỳnh Liên > Các Bài Viết Tưởng Niệm

Đóa Sen Thiêng Của Ni Giới Hệ Phái Khất Sĩ

Tác giả: Ni trưởng Tố Liên.  
Lượt xem: 2346 . Ngày đăng: 24/04/2019In ấn

 

ĐÓA SEN THIÊNG CỦA NI GIỚI HỆ PHÁI KHẤT SĨ

Ni trưởng Tố Liên

 

I. Nhập Đề

Trên đời này, ai dám chắc rằng mình rõ biết tận tường về một con người, cho dù người đó đối với mình là bạn chí thân, là người tâm đầu ý hợp, huống nữa là đối với bậc Thầy, những vị chân tu phi phàm xuất chúng được đời tán tụng xưng dương thì hiểu được những vị ấy càng khó vô cùng. Các bậc ấy, tuy nếp sống thật giản đơn bình dị, song thiên bẩm tài năng, khí tiết và óc sáng tạo của mỗi người thì tuyệt vời, đa dạng, kỳ diệu, viên dung.

Người mà tôi nói đến đó chính là Ni trưởng Huỳnh Liên, vị lãnh đạo tài ba, một bậc Thầy ưu việt của Ni giới Hệ phái Khất sĩ, Người đã có một tấm lòng vì Đạo vì Đời mênh mông bát ngát như biển khơi, công hạnh tuyệt vời, tinh thần bất khuất, trí đức viên dung được thể hiện qua bổn hoài mà người suốt đời tâm niệm:

“Nguyện xin hiến trọn đời mình

Cho nguồn Đạo Pháp cho tình Quê Hương.”

Được vinh hạnh sát cánh cùng Ni trưởng trong vai thị giả suốt cuộc đời tu học, được tiếp nhận cơm Thiền sữa Pháp từ trí tuệ tuyệt vời của Người, lại được chọn vào tiểu ban nội dung của Ban Tổ chức Điều hành Tang Lễ, phụ trách viết tiểu sử, điếu văn, văn cảm tạ, tôi vẫn ngần ngại mình đức mỏng, tài sơ, chỉ có thể phác thảo đôi nét về những công hạnh, tài năng, gương sáng của Người cho sự phát triển Đạo pháp, cho Phong trào Giải phóng Phụ nữ, cho lịch sử đấu tranh giải phóng Dân tộc thân yêu, cho nền hoà bình Thế giới.

II. Báo Ân Đức Phật - Hoằng Dương Chánh Pháp:

Xuất thân trong một gia đình Nho giáo, học hết bậc Trung học và nhờ ảnh hưởng từ cậu ruột là Lê Quý Đàm - Đảng viên Đảng Cộng Sản Đông Dương nên Ni trưởng đã tiếp cận với tư tưởng và gương sáng của những người làm cách mạng đương thời. Trưởng thành trong hoàn cảnh Đất nước đang bị thực dân xâm chiếm, mặc dù đã là một Phật tử tại gia, vậy mà khi phong trào cách mạng bùng nổ, Ni trưởng đã tham gia giành chính quyền cùng với chị em phụ nữ địa phương, đó là động lực để thôi thúc thanh niên nam nữ hăng hái lên đường vì sự nghiệp phục quốc.

Ni trưởng xuất gia thọ giới ngày mùng 01 tháng 04 năm Đinh Hợi (1947) tại chùa Linh Bửu, làng Phú Mỹ, tỉnh Mỹ Tho, được đức Tổ sư Minh Đăng Quang thọ ký pháp danh Huỳnh Liên. Cùng xuất gia một lượt với Ni trưởng là Ni sư Bạch Liên, Ni sư Thanh Liên và Sư Bà Bửu Liên.

Tám năm trường theo bước chân Tổ sư Minh Đăng Quang du phương thuyết giáo, Ni trưởng đã góp phần không nhỏ trong công hạnh hoằng dương. Với lòng từ vô hạn, bằng tâm hạnh người mẹ, người chị thân thương, Ni trưởng ân cần dạy dỗ Ni chúng về mọi mặt, nào kinh nghiệm tu tập, kinh nghiệm hành đạo, đối nhân xử thế, tích đức gieo duyên, kinh nghiệm xương minh Diệu pháp cho đến mặt chữ nghĩa thi phú văn chương. Người cũng rất quan tâm đến đời sống tinh thần của cư gia Phật tử. Mỗi khi có một thiện nam hay tín nữ thọ pháp, Người thường cho một bài kệ Pháp danh nói lên ý nghĩa của sự thọ pháp và khích lệ sách tấn họ tinh tiến tu hành.

Năm 1954, đức Tổ Sư thọ nạn và vắng bóng, môn phái Khất sĩ như con thuyền không lái, loay hoay bập bềnh giữa sóng cả biển to, nhưng bằng kiên trì dũng mãnh, bằng tuệ giác soi đường, Ni trưởng đã khéo lèo lái thuyền Giáo đoàn Ni giới song song với con thuyền Giáo Hội Tăng Già Khất sĩ truyền thừa Phật pháp rộng sâu trong quần chúng nhân dân.

+ Hội chúng xuất gia Ni giới càng lúc càng đông, lên đến cả ngàn, thiện nam tín nữ đến hàng vạn về nương tinh cần tu tiến.

+ Từ Cam Lộ đến Cà Mau đã lần lượt khai sinh 144 ngôi Tịnh xá đạo tràng([1]) trên 144 thảm đất vàng khang trang thanh lịch vốn là cơ sở chi nhánh của Tổ đình Tịnh xá Ngọc Phương, Trung ương Hệ phái, nơi mà Ni trưởng đã lưu nhiều dấu ấn lịch sử, được xây dựng từ năm 1957, trùng tu vào những năm 1972, 1986, 1992.

- Đây chính là sự nghiệp Hoằng Dương Chánh Pháp của Ni trưởng, cũng chính là hiếu đạo Ni trưởng báo đền Phật Tổ thâm ân.

Là một bậc Trưởng lão Ni, với cương vị lãnh đạo Ni giới Hệ phái Khất sĩ, Người luôn luôn nhận thức được sứ mạng cùng trọng trách của mình trước sự nghiệp phát triển và Hoằng Dương Chánh Pháp nên Người kiên quyết giữ vững lập trường, mặc dù gặp rất nhiều trở ngại, nhưng vẫn không nản lòng. Người khẳng quyết “tu có học mới rạng ngời Chánh Pháp, học có tu mới lợi Đạo ích Đời”, dõng mãnh vượt định kiến từ xưa của hạnh Khất sĩ du phương là chỉ chuyên tu giải thoát, với chủ trương cho Ni chúng học thêm văn hoá, sinh ngữ, cổ ngữ và học rộng Phật Pháp, vừa được hấp thụ thêm những tinh hoa mới của thời đại, vừa được thấm nhuần trong biển Pháp của Như Lai. Người chủ động nhiệt tâm đóng góp tài vật, cổ động chư Ni và tín đồ ủng hộ thường xuyên cho việc thành lập trường Cao Cấp Phật Học Việt Nam cơ sở II tại Thành phố Hồ Chí Minh, khuyến khích, sách tấn chư Ni tạo điều kiện, môi trường thích hợp, hỗ trợ cho Ni chúng đủ duyên hăng say học siêng, tu giỏi, tốp theo thế học chuyên ngành, tốp học lên Cao Cấp, Cao Đẳng, học Phật Pháp tinh chuyên, tốp học Kinh bộ, văn phạm và dịch thuật Kinh Pali để đền ơn Thầy Tổ, để rạng rỡ Tông môn, để Chánh Pháp lưu tồn, để tiếp cận kim ngôn Đức Phật([2]). Có nhiều Ni được Người giúp cho xuất ngoại du học.

Ni trưởng thường nhắc nhở: “Mỗi người học chữ phải trao giồi đạo đức, lấy sự tu chứng làm chính chớ không phải chỉ học suông. Mỗi người phải biết nhận thức công ơn tín thí, công ơn Thầy Tổ cao dày, lấy đó làm rường cột, kim chỉ nam cho sự tu học và hành đạo”([3]). Vì thế, với các Ni cô trẻ tuổi, hoặc người lớn tuổi, hoặc thiếu may mắn, hoặc mới vào tu, chưa đủ trình độ văn hoá, Người ân cần chăm sóc, cho mời giáo viên dạy kèm, hoặc cho học bổ túc văn hoá để thoát khỏi nạn dốt nát tối tăm. Đối với những Ni cô có năng khiếu về thi phú văn chương thì Ni trưởng khuyến khích phát triển tài năng và khen thưởng bằng nhiều hình thức.

Thuở sinh thời, Ni trưởng thường bộc lộ niềm vui bằng ánh mắt rạng ngời, bằng nụ cười an lạc, với câu nói ươm đầy kỳ vọng rất dễ thương: “Các cô ơi! Tôi sung sướng lắm, tương lai tôi sẽ có một trăm cô Đại học, hiện giờ tôi đang chuẩn bị lo cho các Ni cô, tốp vào Cao cấp Phật học, tốp đang chuẩn bị vào, tốp đang học lớp 12 và những lớp kế tiếp...” ([4])

- Có thể nói đây là thời kỳ trăm hoa đua nở và vườn hoa Đạo Pháp được ương mầm khắp Đất nước thân yêu.

+ Cuối niên khóa 1970-1971, tại Đại Học Vạn Hạnh Sài Gòn, Ni giới Khất sĩ đã có được một Sư cô (Thích Nữ Tố Liên) tốt nghiệp Cử Nhân Phật Học và Triết học Đông Phương, rồi học tiếp lên Cao học Triết, Cao học Văn thì đến ngày giải phóng. Đó là phát pháo đầu Xuân châm ngòi cho Tăng Ni Hệ phái bắt đầu suy nghĩ thêm để có ý niệm về tầm quan trọng của việc đào tạo nhân tài kế vãng khai lai.

+ Năm 2009, Ni giới Hệ phái đã có 20 Sư cô đỗ Tiến sĩ từ nước ngoài về; 03 Sư cô đỗ Thạc sĩ, 100 Sư cô đã tốt nghiệp Cao Cấp Phật Học từ khoá I-VI, 52 Sư cô đang học khóa VII tại Thành phố Hồ Chí Minh, Huế và Hà Nội, 30 Sư cô đã tốt nghiệp khoá Giảng sư Cao-Trung Cấp do ban Hoằng Pháp Trung Ương đào tạo và 56 Sư cô đã tốt nghiệp Cao Đẳng Phật Học. Tại Tổ đình Tịnh xá Ngọc Phương hiện nay có 130 Học ni đang theo học các trường Phật học cũng như các lớp ngoại khóa([5]). Đó là thành quả vẻ vang của Ni giới Hệ phái.

Ni trưởng vốn là người nhìn xa trông rộng, luôn ý thức, phổ biến, truyền đạt kiến văn của mình đến mọi người như chư vị Tổ Sư tiền bối, Người luôn luôn thể hiện hạnh từ bi, lòng nhân hậu, tình đoàn kết thương yêu Ni chúng, xác định đúng trách nhiệm của mình đối với Ni giới thân thương. Do vậy, Ni trưởng đã có công không nhỏ trong hạnh nguyện hoằng dương, trong tiến trình phát triển Hệ phái, cũng như tiến trình phát triển của đại gia đình Phật Giáo Việt Nam.

Trong trích đoạn “Bức Tâm Thư Ân Cần Phó Thác Các Bậc Tỳ Kheo”([6]), Tâm thư hãy còn rành rạnh nét thủ bút độc đáo, ấm đậm chân tình của một nữ Chân tu Thánh đức. Người ví dụ mấy cô kém tuổi mới tu như những cây bồ đề do Người mới ương trồng trong vườn rồi bận Phật sự phải đi xa, nay giao phó các vị Tỳ kheo phần trông nom chăm sóc. Người viết: “Chính mấy cô ấy, những cái tâm mới mẻ yếu mềm, là những mầm non mới nảy tượng, cần phải chăm sóc nâng niu như vun phân tưới nước. Chớ nên để thiếu sức, ốm gầy, chết mỏn. Phải xem chừng những cái tâm ấy có bệnh tật gì không. Nếu có phải mau chạy chữa. Tật bệnh của tâm là sự buồn chán thối chuyển. Cũng như con sâu đục khoét thân cây”.

Hoà Thượng Thích Trí Quảng, Nguyên Phó Chủ Tịch Hội Đồng Trị Sự Trung Ương Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam đã ghi nhận những cảm niệm sâu sắc của Ngài đối với bậc Chân tu như sau:

Ni truởng Huỳnh Liên là người đầu tiên thành lập giới Khất sĩ Ni, đã dám thay đổi hướng tu; là người đầu tiên chủ trương cho Ni chúng học và sản xuất để có đời sống kinh tế tự túc, không phải lệ thuộc vào sự cúng dường của đàn na; đào tạo và xây dựng người thừa kế có trình độ tri thức, có khả năng đảm đang Phật sự. Qua cuộc sống tu hành của Ni trưởng, chúng ta rút được bài học hành đạo, lợi ích cuộc đời mà không câu nệ Giáo Pháp. Tấm gương sáng của Người thật đáng trân trọng! ([7])

Đồng thời, Hòa Thượng Thích Đức Chơn, trụ trì Quảng Hương Già Lam đã nhận định về tài đức Ni trưởng như Của báu chất đầy non cũng chẳng sánh bằng([8]). Ni trưởng một mình xây dựng cơ sở, đào tạo và giáo dưỡng chúng Ni, đặt cơ bản hoằng pháp lợi sanh tại nông thôn đạt nhiều thành quả đáng kể, soạn bài giảng dạy và kế hoạch kinh tế làm từng giai đoạn theo mùa, hiệu quả cao.

III. Đạo nghiệp Pháp bảo Thơ văn của Ni trưởng:

- Vốn là một thiên tài về văn chương thi phú, nên đạo nghiệp Pháp bảo Thơ văn của Ni trưởng cũng vô cùng đa dạng. Ni trưởng đã nổi bật với hạnh nguyện hoằng dương Chánh pháp qua chủ trương Việt hoá. Người đã biên soạn, phiên dịch và diễn các Kinh tạng chữ Hán và Pali ra chữ Quốc ngữ để Ni chúng và Phật tử dễ học, dễ lãnh hội ý nghĩa súc tích, dễ nhớ, dễ đọc tụng và phổ biến sâu rộng như kinh A Di Đà, Hồng Danh, Vu Lan, Phổ Môn, Báo Hiếu, Bát Nhã Tâm Kinh... Kệ Trích Lục, Kệ Chơn Lý.

Ni trưởng có đến 2000 bài thơ và văn xuôi để giáo hoá môn sinh, đem Đạo vào Đời, giúp Đời thấm Đạo.

Người làm thơ vì vốn rất yêu thơ, rất nhạy cảm, biệt tài xuất khẩu thành thơ, sáng tác nhanh, hay, nội dung Phật chất dạt dào Pháp vị! Như bài “Sen Nở Đầy Hồ”, cảm tác kỷ niệm Hội Nghị Đại Biểu Thống Nhất Phật Giáo Việt Nam tại chùa Quán Sứ - Hà Nội vào năm 1981, bằng lời thơ đậm chí khí, rộng nhân từ của một bậc Chân tu([9]). Người viết như sau:

“Lịch sử triền miên mãi đấu tranh,

Gang rèn, thép luyện, cốt hùng anh.

Người bày trận tuyến bên rừng núi,

Kẻ chống xâm lăng giữa thị thành.

Độc lập hoà bình đất triển khai,

Nghĩa nhân hạt giống tự bao đời.

Lấy ân trừ oán hoa lòng nở,

Đem Đạo hoà Đời, biển khổ vơi...” ([10])

Qua đó, chúng ta thấy rõ thật sự Người là hiện thân của sự hòa bình nhuần nhuyễn tinh thần Phật giáo và Dân tộc.

Ôi! Một nhà thơ có tâm hồn cao đẹp, tình yêu nước dạt dào, tình yêu Đạo mênh mông. Vì vậy, nhà thơ Trụ Vũ đã cung kính tặng Người hai câu đối lúc Người thảnh thơi về xứ Phật:

“Khất sĩ chơn truyền,

lấy nghĩa non sông làm nghĩa đạo;

Huỳnh Liên viên mãn,

cùng hương trời đất toả hương thơ” ([11])

IV. Quá trình hoạt động yêu nước và tham gia phong trào đấu tranh đòi hoà bình, độc lập, tự do cho đất nước.

Từ năm 1960-1975, miền Nam bước vào thời kỳ của khúc quanh lịch sử. Noi gương hạnh Đức Bồ tát Phổ Hiền, nối chí các Thiền Sư Vạn Hạnh và Khuông Việt, Ni trưởng Huỳnh Liên - vị Chân tu giàu lòng yêu nước, kiên định lập trường, chủ trương đem Đạo vào Đời, nhập trần bất nhiễm, tùy duyên bất biến, bất biến vẫn tùy duyên. Trước cảnh chết chóc vô nghĩa của nhân sanh, bom đạn rền trời, thây người chồng chất, gia đình tan tác, nhà cháy ruộng hoang, tín đồ Phật giáo chịu nhiều cảnh áp bức, bất công, xã hội ngày càng xuống dốc. Trước nỗi đau chung của dân tộc, Ni trưởng kiên cường đứng hẳn về phía nhân dân, lãnh đạo hàng Ni giới Khất sĩ và Phật tử vào gông xiềng để bẻ gẫy xiềng gông. Cao điểm là năm 1963, tại Gia Định - Sài Gòn, Giáo hội Ni giới Khất sĩ đã cùng với Phật giáo Thành phố và nhân dân đấu tranh chống Mỹ-Diệm, đòi tự do tín ngưỡng, đòi quyền dân sinh, dân chủ của Phật giáo, đòi cơm áo, hòa bình, đòi công bằng xã hội...

Năm 1970-1975, Ni trưởng là Phó Chủ Tịch Phong Trào Phụ Nữ Đòi Quyền Sống, Uỷ Viên Đoàn Chủ Tịch Mặt Trận Nhân Dân Cứu Đói. Giáo hội Ni giới Khất sĩ trở thành một trong những lực lượng chủ lực của phong trào nhân dân trong cuộc đối đầu trực diện với kẻ thù. Biểu tình “xa luân chiến”, tuyệt thực trước Dinh Độc Lập mấy tuần lễ liền... đã làm cho cả thế giới ngạc nhiên, đồng thời nước ta rất tự hào về “Đội Quân Đầu Tròn” do Ni trưởng lãnh đạo.

Sau đó, Ni trưởng tiếp tục những cuộc đấu tranh gian khổ, nhập phong trào quần chúng, đấu tranh không súng, không gươm, chỉ bằng đuốc trí tuệ, tính kiên trung, không ngại dầu sôi lửa bỏng, tích cực hy sinh cho nền độc lập tự do của đất nước và chính nghĩa của dân tộc Việt Nam.

Từ năm 1973 đến năm 1975 là giai đoạn gay go, gian khổ và khó khăn nhất cho Ni trưởng: lớp bị địch bao vây, cô lập, hâm dọa, len lỏi vào nội bộ, làm lung lạc chư Ni... Ni trưởng phải vận dụng mọi nỗ lực, óc sáng tạo của mình để lèo lái, vượt qua thử thách khó khăn. Nhờ đức bi trí dũng, kiên trì, vong kỷ, lợi tha và tinh thần vô uý, Ni trưởng tự tại, thong dong, an nhiên hành hạnh Bồ tát nghịch cho đến ngày miền Nam hoàn toàn giải phóng. Riêng Tịnh xá Ngọc Phương, nơi trụ xứ của Ni trưởng cũng lâm vào cảnh khổ nạn, do sự giám sát của cảnh sát nổi chìm và kẽm gai phong toả suốt ngày đêm, từ 27.10.1974 đến 12g trưa ngày 29.04.1975 mới được buông tha.

Hoà bình lặp lại, đất nước được độc lập, thống nhất. Mọi người dân phấn khởi, yên tâm làm ăn. Ni giới Hệ phái Khất sĩ tự hào vì đã góp phần nhỏ bé của mình trong sự nghiệp chung, nay vẫn tiếp tục phát huy truyền thống gắn liền Đạo pháp với Dân tộc trong nhiệm vụ phụng Đạo đẹp Đời. Ở những cương vị xã hội mới: Đại biểu Quốc hội khoá VI; nhiều nhiệm kỳ là Phó Chủ tịch Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc Thành phố, Uỷ viên Uỷ ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, Uỷ viên Trung ương Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam, Phó Chủ tịch Uỷ Ban Bảo vệ Hoà bình Thế giới của Thành phố Hồ Chí Minh, Ni trưởng đã lãnh đạo Ni giới Hệ phái Khất sĩ từng bước phát triển theo đúng đường hướng của Giáo hội Phật giáo Việt Nam trong thời kỳ mới. Đặc biệt Ni trưởng đã tích cực tham gia công cuộc vận động thống nhất Giáo hội Phật giáo Việt Nam bằng tất cả tâm huyết của một nữ tu chân chính luôn lấy nghĩa Non sông làm nghĩa Đạo.

Những năm cuối của báo thân, sức khoẻ kém dần, Ni trưởng vẫn bền hạnh nguyện kiên trì giáo dưỡng, vàng gieo ngọc ném, viên giáo khai thông, trụ chân tâm nhiếp hoá sanh quần, giới đức ngát hương, thiền na tỏ rạng.

Ni trưởng về cảnh giới chơn như lúc 16 giờ 30 phút ngày 19 tháng 3 âm lịch năm Đinh Mão (1987) tại Tịnh xá Ngọc Phương thân yêu. Người đã dứt khoát với cuộc thế vô thường, lặng lẽ an nhiên thu thần thị tịch, nhẹ bước nhàn du cao đăng Phật quốc, hưởng 65 tuổi thọ, hạ lạp trải 41 mùa mưa, để lại trong lòng hàng môn đồ đệ tử và thân hữu gần xa biết bao niềm kính thương, luyến tiếc.

Người được Đảng và Nhà nước Việt Nam tặng thưởng:

- Huân chương Độc lập hạng Nhì.

- Huân chương Kháng chiến chống Mỹ cứu nước hạng Nhất.

- Huân chương Quyết thắng hạng Nhất.

- Huy hiệu Thành phố Hồ Chí Minh.

- Bằng khen Mười năm của Uỷ ban Nhân dân Thành phố về công đóng góp cho sự nghiệp giải phóng Đất nước và Thành phố thân yêu.

Nhân danh Uỷ Ban Mặt Trận Tổ Quốc Việt Nam Thành phố Hồ Chí Minh, ông Ung Ngọc Ky, Phó Chủ tịch UBMTTQTP.HCM trân trọng biểu dương công đức([12]) trong Lễ Truy điệu của Người như sau:

1. Ni trưởng Huỳnh Liên, một nhà tu hành chân chính.

2. Ni trưởng Huỳnh Liên, một chiến sĩ kiên cường.

3. Ni trưởng Huỳnh Liên, một nhà tổ chức quần chúng giỏi, một nhà hoạt động xã hội giỏi.

Ni trưởng Huỳnh Liên là một biểu tượng cao đẹp nhất của một bậc Chân tu. Từ xuất gia tu học đến lúc hoằng dương Chánh pháp, từ giáo hoá môn sanh đến sự nghiệp thơ văn, từ công trình văn hoá, công trình xã hội đến hành Bồ tát đạo, đều kết tinh những sáng tạo tuyệt vời, để lại những tài liệu quý báu, hiếm có khó được cho đất nước, cho môn sinh, cho vạn loại...

Công hạnh, gương sáng phụng Đạo giúp Đời, chí khí hào hùng bất khuất của Người đã được Hoà thượng Thích Từ Thông - Ủy viên Hội đồng Trị sự Trung ương Giáo hội Phật giáo Việt Nam cảm khái qua câu đối:

“Chí bất khuất vì Hạnh Phúc Tự Do,

chiếc áo Khất sĩ làm vẻ vang trong Ni giới;

Nguyện kiên cường cho Hoà Bình Độc Lập,

tấm thân Nữ lưu nêu gương sáng chốn Tòng Lâm” ([13])

Dẫu rằng ngày nay, Ni trưởng đã yên nghỉ nơi cõi Niết bàn vắng lặng, nhưng công hạnh của Ni trưởng vẫn mãi mãi còn đây, trong lòng Thành phố thân yêu, trong tâm khảm những người con Phật, trong lòng Đảng, lòng Dân như:

- Chủ tịch Uỷ ban Nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh, ông Nguyễn Vĩnh Nghiệp vô cùng thương tiếc Ni trưởng Huỳnh Liên như sau: “Ni sư Huỳnh Liên mất đi, chẳng những là một tổn thất lớn lao đối với Hệ phái Ni giới Khất sĩ và Phật Giáo Việt Nam mà còn là một tổn thất chung cho Cách mạng và nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh. Ni sư chẳng những đã nêu cao tấm gương sáng về đức hạnh, chân tu mà còn để lại một bài học quý báu cho Ni giới, cho người Việt Nam về lòng yêu nước thương dân, về tinh thần đấu tranh cho sự nghiệp Cách mạng không mệt mỏi”.([14])

- Linh mục Huỳnh Công Minh, Đại biểu Quốc Hội khoá VI đã nhận xét đánh giá Ni trưởng như sau: “Ni sư Huỳnh Liên là một hình ảnh tuyệt đẹp của một bậc chân tu trong một dân tộc anh hùng bất khuất, là một tấm gương sáng cho mọi người tu hành của mọi tôn giáo gắn bó với dân tộc”.([15])

- Hòa Thượng Thích Minh Châu, nguyên Phó Chủ tịch kiêm Tổng Thư ký Trung ương Giáo hội Phật giáo Việt Nam đã viết: “Cố Ni sư Thích nữ Huỳnh Liên ngoài những đóng góp tốt đẹp cho Cách Mạng Việt Nam, lại còn là một Ni trưởng chăm lo đào tạo một thế hệ Ni chúng Khất sĩ trẻ, có tu, có học, có ý thức, tự lực tự cường. Mong rằng các vị kế nghiệp Ni sư hằng tiếp tục sự nghiệp tốt đẹp ấy”.([16])

- Ni trưởng Thích Nữ Diệu Không, Viện chủ Chùa Hồng Ân - Huế, khi đến niêm hương tưởng niệm Ni trưởng đã chân thành phát biểu: Ni trưởng Huỳnh Liên là một bậc chân tu hiếm có, tài đức vẹn toàn. Xin nhiếp niệm cung tiễn Người Phật quốc cao đăng.

V. Kết luận

Ôi! Công hạnh, trí đức viên dung, gương sáng tuyệt vời, suốt bốn mươi năm tròn giúp Đời phụng Đạo, kiến tạo Hoà Bình của Ni trưởng đã hiên ngang đi vào trang sử hào hùng của dân tộc Việt Nam ! Những bước đi trầm hùng dạt dào đức từ bi hỷ xả đã đậm nét trong tâm tôi và sống mãi trong lòng mọi người, trong Phong trào Giải phóng Phụ nữ, trong Lịch sử Đấu tranh Giải phóng Dân tộc, trong ký ức của Tăng ni Phật tử Giáo hội Phật giáo Việt Nam, nhân dân đất Việt và Hoà Bình Thế Giới.

Xin nguyện mãi mãi nỗ lực tinh tấn trong Đạo nghiệp, thực hiện tâm nguyện của Ni trưởng đã thể hiện trong lời phó chúc:

“Ngày đã cận, cần tu gấp rút,

Giới giữ sao trong sạch như xưa,

Định Huệ không thiếu, không thừa,

Lợi ích dân chúng đúng vừa khả năng”.

 

[1] Theo thống kê của Ni Giới Hệ phái Khất sĩ, tính đến ngày Ni trưởng viên tịch, Ni Giới Hệ phái thành lập được 144 Tịnh xá.

[2] Xem Điếu văn của chúng Học ni Pali trong Kỷ yếu Ni trưởng Huỳnh Liên tr.357.

[3] Trích lời Di Chúc trong Kỷ yếu Ni trưởng Huỳnh Liên tr.23.

[4] Xem Kỷ yếu Ni trưởng Huỳnh Liên tr.177.

[5] Theo thống kê của Ni giới Hệ phái.

[6] Xem Kỷ yếu Ni trưởng Huỳnh Liên tr. 415-417.

[7] Xem Kỷ yếu Ni trưởng Huỳnh Liên tr.140-141 hoặc Tư tưởng Phật giáo tập I của HT. Thích Trí Quảng – NXB Tôn Giáo xuất bản năm 2004, tr.360-361.

[8] Xem Kỷ yếu Ni trưởng Huỳnh Liên tr.169-171.

[9] Viết theo Nhận định và đánh giá của Cư sĩ Tống Hồ Cầm, Uỷ viên Kiểm soát Ban Thường trực TƯ GHPG VN trong Kỷ yếu Ni trưởng, tr. 217.

[10] “Sen Nở Đầy Hồ”, Tập thơ Ni trưởng Huỳnh Liên tr.318.

[11] Kỷ yếu Ni trưởng Huỳnh Liên, tr.134.

[12] Kỷ yếu Ni trưởng Huỳnh Liên, tr.122-125.

[13] Kỷ yếu Ni trưởng Huỳnh Liên tr.134.

[14] Kỷ yếu Ni trưởng Huỳnh Liên tr.42 và 121.

[15] Kỷ yếu Ni trưởng Huỳnh Liên tr.87.

[16] Kỷ yếu Ni trưởng Huỳnh Liên tr.42.

 

---oo0oo---

BÀI LIÊN QUAN

Ni Trưởng Huỳnh Liên - Cuộc đời và Đạo nghiệp, Đạo hạnh và Thi ca  ( Ni sư Nguyện Liên , 3808 xem)

Kính niệm Di Huấn cố Ni Trưởng là Pháp tu Giới Định Tuệ  ( Sư cô Hiệp Liên , 704 xem)

Kệ Chơn Lý: Sinh Tử  ( Chơn Ngân , 324 xem)

Lặng nhớ người xưa  ( Ni trưởng Gương Liên , 812 xem)

Gương sen chiếu diệu  ( Hòa thượng Giác Toàn , 384 xem)

Pháp Thiền trong bài kệ Chào Bình Minh  ( Ni sư Xuân Liên , 1612 xem)

Đời - Đạo viên dung  ( Liên Duyên , 528 xem)

Kỷ yếu Lễ Tưởng Niệm Lần Thứ 30 Ni Trưởng Huỳnh Liên - Lời Nói Đầu  ( Ban Biên Tập , 3420 xem)

Cảm Tác  ( Ni sư Kiên Liên , 1540 xem)

Ngọc Uyển Một Chiều Mưa  ( Ni sư Kiên Liên , 1956 xem)

Ý KIẾN BẠN ĐỌC